Chiến dịch “Hồi hương”


25-12-2017
Cuối năm 1972, đế quốc Mỹ từng huênh hoang sẽ đưa “miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá” bằng cuộc tập kích đường không quy mô lớn chưa từng có trong 12 ngày đêm bằng “siêu pháo đài bay B-52”. Ba tháng sau, máy bay Mỹ lại có dịp cất cánh trên bầu trời Hà Nội. Nhưng không phải thực hiện nhiệm vụ ném bom phi nghĩa, mà là đưa tù binh phi công Mỹ trở về.

Trong 12 ngày đêm anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta mà nòng cốt là Bộ đội Phòng không – Không quân đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Đây là lần đầu tiêu “siêu pháo đài bay” – B52 thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề. Cụ thể, có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, gồm: 34 chiếc B-52, 5 chiếc F-111, 21 chiếc F-4, 4 chiếc A-6, 12 chiếc A-7, 1 chiếc F-105, 2 chiếc RA-5C, 1 trực thăng HH-53 và một trinh sát không người lái 147SC. Đi đôi với tổn thất về máy bay, Mỹ còn chịu tổn thất không bù đắp được là mất rất nhiều phi công. Chỉ hơn 10 ngày, không quân Mỹ đã mất hàng trăm phi công, hầu hết là những phi công kỳ cựu, đã bay hàng nghìn giờ, là nguồn nhân lực tác chiến bậc cao nhất của quân đội Mỹ.

Ngày 17/1/1973, Hiệp định Pari về hòa bình tại Việt Nam được ký kết, theo đó, Mỹ có 60 ngày để rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, cũng trong vòng 60 ngày phía Việt nam sẽ trao trả 591 tù binh, phi công Mỹ cho phía Mỹ. Ngày 29/3/1973, các đơn vị quân đội Mỹ cuối cùng đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Bộ chỉ huy viện trợ Mỹ Ở Nam Việt Nam (MACV) đã giải tán, Bộ chỉ huy Tập đoàn Không quân số 7 tại Tân Sơn Nhất đã rút về Mỹ.


Niềm vui mừng của các tù binh phi công Mỹ khi được trở về nhà - Ảnh Internet.

Trước khi tiến hành trao trả tù binh tại sân bay Gia Lâm bàn giao cho phía Mỹ, theo chủ trương, các tù binh phi công được tập hợp lại để nói chuyện. Sau khi nhắc lại ngắn gọn tinh thần của Hiệp định Pari về việc trao trả tù binh chiến tranh, cán bộ trại giam đã nói chuyện tình cảm và chia sẻ nhằm giải thích cho các phi công Mỹ về chính sách nhân đạo của Việt Nam.

Chiến dịch đặc biệt này mang mật danh “Hồi hương” (Homecoming), bao gồm các hoạt động ngoại giao và các chuyến bay chuyên chở 591 phi công tù binh Mỹ (POW) bị bắt trong chiến tranh về nước. Không quân Mỹ đưa tù binh phi công từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội) về căn cứ Clark Ở Philippines sau đó về Mỹ.

Sáng ngày 12/2/1973, các chiến sĩ bộ đội và người dân xung quanh sân bay Gia Lâm đã chứng kiến các máy bay C-141 của Không quân Mỹ hạ cánh và lăn vào nhà ga sân bay. Đó là 3 chiếc Lockheed C-141 Starlifter hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm (Hà Nội) để chuyên chở những phi công Mỹ đầu tiên được trao trả.


Thương binh John McCain và Tổng thống Nixon tại Washington sau khi về nước - Ảnh Internet.

Nguyên tắc thứ tự trao trả là các phi công đã bị giam giữ lâu nhất và bị thương nặng được trao trả trước. Đợt trao trả đầu tiên ngày 12/2/1973 gồm 116 phi công; đợt trao trả ngày 14/2/1973 gồm 106 người; đợt trao trả ngày 14/3/1973 là 107 người và một nhân viên dân sự. Đợt cuối cùng là ngày 29/3/1973, tù binh, phi công cuối cùng từ giã sân bay Gia Lâm là Thiếu tá Hải quân Anfred Agnew (phi công bị Trung úy Hoàng Tam Hùng bắn rơi). Chiếc máy bay C-141A cuối cùng mang số hiệu 50238 cất cánh từ sân bay Gia Lâm lúc 15 giờ 20 phút ngày 29/3/1973.[1]

John McCain, Thượng nghị sĩ, cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ, từng tham chiến trên chiến trường Việt Nam với tư cách là phi công hải quân. Khi thực hiện cuộc ném bom ngày 26/10/1967, máy bay của McCain bị bắn trúng trên bầu trời Hà Nội và ông trở thành tù binh chiến tranh. Bộ quần áo phi công của John McCain hiện nay được trưng bày trong Khu di tích Nhà tù Hỏa Lò, nơi ông bị giam giữ những ngày ở Việt Nam.

McCain cùng nhiều tù binh Mỹ khác được trao trả ngày 14/3/1973. Trong một dịp trả lời báo chí về sự kiện này, ông nói: “Tại sân bay, chúng tôi xếp thành hàng theo thứ tự ngày chúng tôi bị bắn hạ và chúng tôi cố duy trì phong thái của người lính trước những tiếng lách cách liên tục của máy chụp ảnh và đám đông vây quanh chúng tôi. Các quan chức Việt Nam và Mỹ ngồi ở một chiếc bàn, mỗi người có một bản danh sách tù nhân. Đại diện cả hai quân đội gọi tên các binh sĩ. Tôi bước lên chiếc bàn và chào. Một quan chức hải quân Mỹ bắt tay tôi và chỉ cho tôi đường tới máy bay”.[2]


Niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình khi đón tù bình phi công Mỹ trở về - Ảnh: Sal Velder

Chuyến bay đầu tiên chở 40 tù binh, phi công trên C-141A rời Hà Nội vào trưa ngày 12/2/1973, sau này nhiều sử gia Mỹ gọi nó là chuyến “Taxi Hà Nội”. Sau khi thực hiện các phi vụ chở phi công tù binh Mỹ về nước năm 1973, chiếc C-141 mang số hiệu 66-0177 này tiếp tục phục vụ trong Không quân Mỹ. Thậm chí, trong trận bão lịch sử Hurricane Katrina, năm 2005, nó còn tham gia chuyên chở các nạn nhân đi sơ tán.

Chiếc C-141 này là chiếc máy bay C-141 cuối cùng được giữ lại trong Không quân Mỹ. Lúc 9 giờ 30 phút sáng ngày 6/5/2006, chiếc C-141 (Taxi Hà Nội) bay chuyến cuối cùng, sau đó được đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Không quân Mỹ (The National Museum of the USAF) tại căn cứ Không quân Wright, Pattenson, gần thành phố Dayton, bang Ohio.

Trong chiến dịch Hồi hương, từ ngày 12/2 đến 4/4/1973 đã có 54 lần/chiếc C-141 thực hiện các chuyến bay từ sân bay Gia Lâm để chở các tù nhân, phi công Mỹ hồi hương./.


[1] Nguyễn Sỹ Hưng – Nguyễn Nam Liên và nhóm tác giả: Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965 – 1975) nhìn từ hai phía, NXB QĐND, H. 2013, Tr. 853.

[2] Vũ Hà: John McCain và cuộc trao trả tù binh 40 năm trước, Báo điện tử Vnexpress, ngày 15/4/2013.


Nguồn: Thuận Nguyễn
25-12-2017
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
THƯ VIỆN Video
THƯ VIỆN ẢNH
s