Bảo vật bắn rơi “pháo đài bay”


12-12-2017
Một trong những Bảo vật Quốc gia của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được Nhà nước công nhận đợt đầu năm 2012 là máy bay MiG-21F94 mang số hiệu 5121. Ngày 27/12/1972, Thượng úy phi công Phạm Tuân lái máy bay này phóng hai tên lửa đối không đã bắn rơi chiếc máy bay B-52D của Mỹ trên bầu trời Yên Bái. Nhân sự kiện này, chúng tôi may mắn được Trung tướng Phạm Tuân kể lại trận đánh lịch sử ấy.

Vóc dáng to cao, người phi công anh hùng bước lên cầu thang ngắm nhìn khoang lái. Bằng chất giọng hào sảng, ông nói: “Truyền thông quốc tế đã nêu rất nhiều thông tin về sự kiện Không quân nhân dân Việt Nam bắn hạ pháo đài bay B-52 nhưng có một chuyện ít người biết được đó là việc khổ công luyện tập của Đại đội MiG-21 bay đêm thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921”.

Nhìn ngắm người “bạn” song hành cùng mình trên bầu trời quê hương 40 năm trước, ông kể: “Từ đêm 18/12/1972 và các đêm tiếp theo, các phi công MiG-21 liên tục cất cánh đánh B-52, song chưa hiệu quả. Việc thực hiện đánh máy bay B-52 không thành công là do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn máy bay tác chiến điện tử EB-66 gây nhiễu tích dày đặc, địch sử dụng máy bay F-4 gây nhiễu và bảo vệ B-52, ngoài ra còn có máy bay F-111, F-105 bay trước đánh phá, chế áp các sân bay, hệ thống phòng thủ tên lửa mặt đất của ta. Tuy nhiên một trong những nguyên nhân cơ bản được xác định là công tác chuẩn bị và tổ chức chỉ huy”.


Phạm Tuân (ngoài cùng bên phải) cùng đồng đội thảo luận đánh B-52 trong đêm, tháng 12/1972
- Ảnh Tư liệu Bảo tàng LSQS Việt Nam.

Căn cứ vào chủ trương của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân, Trung đoàn 921 đã kịp thời rút kinh nghiệm, xây dựng quyết tâm, nghiên cứu kỹ địch, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu của máy bay B-52, rút ra quy luật hoạt động của địch, từ đó đề ra phương án tác chiến đánh B-52. Để khắc phục tình trạng này, Trung đoàn 921 tổ chức huấn luyện cho phi công đánh đêm. Ông nói tiếp: “Đại đội MiG-21 bay đêm có 14 phi công nhưng chỉ có 9 phi công đủ diều kiện trực đánh đêm, hầu hết chưa qua thực tế chiến đấu. Lực lượng đánh đêm mỏng, kinh nghiệm còn ít, việc đánh B-52 đòi hỏi phải có quyết tâm rất cao, mưu trí, dũng cảm, dày công nghiên cứu, tìm ra cách đánh B-52 thích hợp với hoàn cảnh của mình”.

Tất cả các phi công được chọn bay đêm đều có quyết tâm cao, có nguyện vọng trực tiếp tham gia diệt B-52 nên tích cực tập luyện. Phạm Tuân là một trong số đó. Các bài tập đánh B-52 được tập luyện chủ yếu điển hình là: Chống nhiễu ra đa; Tập phát hiện địch mà không mở ra đa của máy bay; Xác định cự ly tới máy bay B-52 để phóng tên lửa; Ngắm bắn B-52 ban đêm bằng mắt thường và tiếp cận khi địch có đèn tín hiệu hoặc tắt đèn; Tập hạ cánh ở các sân bay dã chiến, đường băng ngắn, hẹp. Ngoài hệ thống dẫn dắt của Sở chỉ huy còn có sự hỗ trợ đắc lực của các đơn vị ra đa phòng không khác, trong đó có Đại đội 22 thuộc Trung đoàn ra đa 292 ở Mộc Châu.

Đêm 27/12/1972, trực tại Sở chỉ huy binh chủng có Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371 Trần Hanh; Trực ban dẫn đường Đại đội ra đa 22 Mộc Châu gồm các đồng chí: Lê Liên, Đặng Dũng, Lương Văn Bắc. Phạm Tuân được cử tham gia trận đánh. Để giữ bí mật và tạo yếu tố bất ngờ, chiều tối ngày 27/12/1972, Trung đoàn 921 lệnh cho Phạm Tuân cơ động lên sân bay Yên Bái. 19 giờ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thông báo: Từ 21 đến 22 giờ, địch có khả năng sử dụng 70-80 lần chiếc B-52 và 60-80 lần chiếc máy bay không quân chiến thuật đánh vào Hà Nội.


Thượng úy phi công Phạm Tuân trước giờ xuất kích - Ảnh Tư liệu Bảo tàng LSQS Việt Nam.

Ông úp bàn tay rồi di chuyển minh họa cho lời kể: “Khoảng 21 giờ tôi được lệnh mở máy xuất kích. Đây là lần đầu tiên phi công Việt Nam bay đêm ở Yên Bái, đèn đóm ở đây không được chuẩn lắm. Tôi cất cánh lao lên bầu trời đêm đen thẫm, xuyên lên trên mây theo hướng 230 độ ở độ cao 2000 mét. Vừa vọt lên, thấy nhiều nhiễu do máy bay F-4 của địch, tôi liền báo về Sở chỉ huy và được lệnh cơ động hướng, giữ độ cao thấp để vượt qua tốp F-4 làm nhiệm vụ khống chế ở khu vực gần sân bay cất cánh”.

 22 giờ 29 phút đang bay ở độ cao 4000 mét, Phạm Tuân được Sở chỉ huy thông báo cách địch 80 km, lập tức ném thùng dầu phụ, bật tăng lực lên độ cao 10.000m. Ông nhớ lại: “Tôi phát hiện 2 hàng đèn, xác định đó là B-52 và báo cáo “361 phát hiện B-52! Xin phép vào công kích”. Sở chỉ huy rất mừng vì lần đầu tiên phi công ta phát hiện được B-52. Với cách đi thấp, kéo cao, tôi bật tăng lực lấy tốc độ vòng trái bám theo đèn B-52 quan sát rộng, tôi phát hiện phía sau còn có tốp F-4. Báo cáo tình hình về Sở chỉ huy và nhận được lệnh tiếp cận và công kích B- 52. Khi cự ly còn khoảng 4 km, tôi báo cáo về Sở chỉ huy cho phép công kích chiếc số 2 và nhận lệnh “361 bắn! Thoát ly bên trái”. Tôi bình tĩnh chỉnh lại điểm ngắm và ấn nút phóng tên lửa. 2 tên lửa đối không rời bệ lao vút về phía trước. Vừa kéo cần lái, máy bay đã lướt qua điểm nổ sáng rực của máy bay B-52. Lúc đó là 22 giờ 35 phút. Tôi tăng lực lật ngửa máy bay, làm động tác lộn xuống gấp và thoát ly ra độ cao 2.000 mét”.

Rồi ông cười sung sướng: “Lần đầu tiên bắn tên lửa vào ban đêm, thấy một vạch đi trước, quả thứ hai lao vút đi sau, tạo thành một đường sáng rực. Chiếc B-52 bị trúng đạn sáng lòa cả một góc trời”.


Máy bay B-52 bị cháy - Ảnh Tư liệu.

Theo phương án đặt ra, Sở chỉ huy cho Phạm Tuân bay theo hướng 360 độ thoát khỏi vòng hỏa lực của tên lửa phòng không của ta dưới đất. Đêm đó mây khá dày, có đỉnh mây cao 1.000 mét, tạo thành những cuộn lớn che kín khu vực sân bay Yên Bái. Phạm Tuân được dẫn dắt bay xuyên mây, hạ cánh trực tiếp xuống sân bay Yên Bái lúc 22 giờ 46 phút.

Sáng hôm sau (28/12) Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen ngợi vì đã bắn rơi máy bay B-52. Trận đánh đêm 27/12/1972, lần đầu tiên Không quân nhân dân dân Việt Nam bắn rơi B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm. Như vậy, sau 10 ngày của Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, sát cánh cùng bộ đội tên lửa, MiG-21 của Không quân ta đã lần đầu tiên trong lịch sử không chiến thế giới bắn rơi B-52, “pháo đài bay” được coi là bất khả xâm phạm của Không quân Mỹ. Chiến công này đã làm nức lòng quân và dân cả nước, nó mang ý nghĩa chính trị, quân sự sâu sắc làm cho đế quốc Mỹ thấy rằng “siêu pháo đài bay B-52 không phải là bất khả xâm phạm”.

Chiếc B-52 bị Phạm Tuân bắn rơi do Đại úy Frank Douglas Lewis điều khiển cùng tổ bay 6 người, thuộc Không đoàn ném bom số 72, tăng cường cho Không đoàn số 43, cất cánh từ sân bay Anderson trong khi tiến hành phi vụ ném bom Hà Nội đã bị bắn hạ bởi tên lửa R3S ở độ cao 8000m.[1]


Bảo vật Quốc gia MiG-21 số hiệu 5121 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Kể đến đây, ông cười vang: “Cái lúc tôi thoát ly tốc độ lớn, làm động tác lộn xuống gấp ở khu vực rừng núi trong điều kiện bay đêm rất dễ mất an toàn, đó là khuyết điểm. May không sao, để đến giờ tôi còn có dịp kể lại những ngày tháng chuẩn bị và trận đánh B-52 năm xưa”. Vỗ nhẹ lên thân “én bạc”, ông chia sẻ: “Chiến công ấy có 80% là may mắn, nhưng may mắn ở đây là có thời cơ và phải biết chớp thời cơ. Trận ấy không thực sự phức tạp. Nhưng thành quả đó có được là do chúng ta đã từng đổ xương máu, đổ mồ hôi trong nhiều trận không chiến trước”.

MiG-21 số hiệu 5121 là một trong những hiện vật có giá trị đặc biệt gắn với chiến công của Bộ đội Không quân, góp phần đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. Năm tháng trôi qua, “én bạc” với 5 ngôi sao trên mũi không còn vút bay trên bầu trời quê hương mà đứng hiên ngang trong khuông viên trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam để kể lại câu chuyện hùng tráng bắn hạ “pháo đài bay” năm xưa tới thế hệ hôm nay và mai sau./.


[1] Nguyễn Sỹ Hưng, Nguyễn Nam Liên và nhóm tác giả: Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965 – 1975) nhìn từ hai phía, NXB QĐND, H. 2013, Tr. 824.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
12-12-2017
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
THƯ VIỆN Video
THƯ VIỆN ẢNH

s