Phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)


31-05-2018
Sau chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra chỉ thị phát động phong trào thi đua yêu nước để động viên mọi lực lượng phục vụ cuộc kháng chiến và kiến quốc. Để triển khai chỉ thị này, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, kêu gọi toàn dân tộc tích cực thi đua “làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”.

Hưởng ứng Lời kêu gọi của Người, cả dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, gái, trai, già, trẻ, ở trong nước hay ở ngoài nước, trên mọi lĩnh vực hoạt động, đã hăng hái tham gia phong trào Thi đua yêu nước, tạo nên một động lực mới, một khí thế mới, một sức mạnh mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, phong trào thi đua yêu nước đã phát triển rộng khắp. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực thi đua một cách toàn diện, bền bỉ, liên tục, vừa kháng chiến vừa kiến quốc “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”.


Sắc lệnh số 195/SL và 196/SL ngày 01/6/1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương các cấp và quy định thành phần của Ban Vận động thi đua ái quốc các cấp - Ảnh Trung tâm Lưu giữ quốc gia III.

Nổi bật là phong trào “Tổng phá tề” cuối năm 1948 của nhân dân vùng sau lưng địch ở Bắc Bộ góp phần phá hệ thống kìm kẹp của địch, chống lại một cách có hiệu quả chính sách “dùng người Việt hại người Việt” của thực dân Pháp; Cuộc vận động luyện quân, lập công từ tháng 12/1947 được phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân vào năm 1948 và 1949; phong trào thi đua thanh niên ghi tên tòng quân; phong trào đỡ đầu bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong nhân dân; phong trào thực hiện kinh tế tự túc, tự cấp, phấn đấu bảo đảm những nhu cầu tối thiểu của đời sống nhân dân và của kháng chiến.

Ở vùng sau lưng địch, phong trào “Bảo vệ thanh niên, chống địch bắt lính”, vận động binh lính rời bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân trở thành phong trào quần chúng. Từ năm 1951 đến đầu năm 1952, ở miền Bắc có 400.000 gia đình tham gia đấu tranh chống bắt lính, 18.638 ngụy binh đòi giải ngũ, hàng vạn lính ngụy, lính “dõng”, “vệ sĩ” đã ra hàng hoặc bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân[1].

Phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp phát triển rộng khắp, nông dân nêu cao tinh thần yêu nước, cần cù lao động, nâng cao năng suất; cán bộ, công nhân viên chức, học sinh thi đua sản xuất, chăn nuôi. Đến năm 1953, kết quả sản xuất lương thực ở vùng tự do và vùng căn cứ du kích đã tăng nhanh, chỉ tính từ Liên khu IV trở ra đạt 2.757.700 tấn thóc và 650.850 tấn hoa màu. Nhu cầu về nhu yếu phẩm của nhân dân và bộ đội đã được đáp ứng đầy đủ hơn.


Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nông dân đang gặt lúa trên cánh đồng xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954 - Ảnh Tư liệu.

Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, phong trào thi đua yêu nước cũng tạo ra những chuyển biến sâu sắc và vững chắc. Đến năm 1950, cả nước có 14 triệu người thoát nạn mù chữ. Đến tháng 9/1953, có 10.450 lớp bổ túc văn hóa với 335.946 học viên. Ngành giáo dục được chấn chỉnh lại theo phương châm: phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân và phục vụ sản xuất. Khóa học 1952 - 1953 có 767.651 học sinh phổ thông các cấp; khóa học 1953 - 1954 có 1.130.242 học sinh[2].

Trong Đông – Xuân năm 1953 - 1954, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, nhân dân ta đã lập nên một kỳ tích về vận tải. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng ngàn kilômét đường được xây dựng và sửa chữa, kịp thời phục vụ chiến dịch; tất cả các phương tiện vận chuyển đều được huy động; 261.461 dân công với trên 18.301.570 ngày công đã tham gia phục vụ chiến dịch; 27.400 tấn gạo được huy động cung cấp cho mặt trận Điện Biên Phủ[3].

Từ phong trào thi đua ái quốc đã xuất hiện rất nhiều gương người tốt, việc tốt tiêu biểu như: ngành Công nghiệp có anh hùng Ngô Gia Khảm, Nguyễn Văn Thường, Cao Viết Bảo…; Chiến sĩ thi đua trong Lao động trí óc có Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng…; Chiến sĩ thi đua Quân đội có La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Giáp Văn Khương…; Chiến sĩ Nông nghiệp như Hoàng Hanh, Trịnh Xuân Bái…


Chủ tịch Hồ Chí Minh với các anh hùng và chiến sĩ thi đua tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, năm 1952 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Từ ngày 30/4 đến ngày 06/5/1952, sau 4 năm phát động phong trào thi đua yêu nước, tại Việt Bắc, Đại hội Anh hùng các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc được tổ chức long trọng. Đại hội đã bầu được 07 anh hùng chiến sĩ thi đua: Cù Chính Lan, Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Trần Đại Nghĩa, Ngô Gia Khảm, Hoàng Hanh.

Trong vòng 6 năm (1948 - 1954), phong trào thi đua yêu nước được tổ chức ngày càng chặt chẽ từ xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu thi đua, đến sơ kết, tổng kết, báo công, bình công, mừng công trong không khí dân chủ và công bằng. Từ Trung ương đến địa phương đều chăm lo nuôi dưỡng phong trào, xây dựng, bồi dưỡng điển hình, nêu gương và học tập điển hình, nhân điển hình từ cá biệt đến phổ biến góp phần tạo ra những chiến công, những thành tích ngày càng lớn trong sản xuất và phục vụ chiến đấu.

Quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã được toàn dân tích cực, nỗ lực tham gia, phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của dân tộc, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, góp phần đẩy mạnh công cuộc kháng chiến và kiến quốc, lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp./.


[1] Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Thi đua yêu nước”, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 122

[2] Sđd, tr. 123

[3] Sđd, tr. 124


Nguồn: Thanh Tâm
31-05-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s