Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946


11-03-2018
Hiệp định sơ bộ cùng các hoạt động ngoại giao tiếp theo đã đem lại cho Việt Nam “hai điều lợi lớn: phá được mưu mô của bọn Tàu trắng, bọn phát xít và của bọn Việt gian, bảo toàn được thực lực; Dành lấy những giây phút nghỉ ngơi… để sửa soạn cuộc chiến đấu mới” tiến tới giành độc lập hoàn toàn.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đây là nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - thời đại nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước, tự lựa chọn, quyết định con đường đi của dân tộc.

Tuy nhiên, sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách lớn trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội. Đặc biệt, những âm mưu, tính toán can thiệp vào Việt Nam, ở mức độ khác nhau của các nước trên thế giới đã tác động phức tạp đến tình hình đất nước. Có thể nói, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Để đối phó với tình hình lúc này, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều biện pháp, chính sách quan trọng. Một trong những phương thức đấu tranh khôn khéo, tài tình, linh hoạt về sách lược, cứng rắn về nguyên tắc được Đảng và Chính phủ thực hiện đó là đấu tranh ngoại giao.

Ngay sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, tại Hà Nội đã diễn ra những cuộc tiếp xúc bí mật giữa đại diện Chính phủ Pháp với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 27/8/1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ Việt Nam đã gặp gỡ Sĩ quan tình báo Pháp Xanh-tơ-ni (Sainteny): “Ông Giáp không hề tỏ ra chút gì thù địch cả. Ông chỉ trình bày giản dị rằng Việt Minh hiện nay là người làm chủ nước Việt Nam, rằng Việt Minh vừa thành lập Chính phủ lâm thời và ông hi vọng, nước Pháp sẽ quan tâm đến thực tế đó”[1].


Lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 tại 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội - Ảnh Tư liệu.

Ngày 28/9 và ngày 06/10/1945, đã diễn ra các cuộc tiếp xúc giữa đại diện Pháp là Pi-nhông (Pignon) với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong điện báo cáo về Pháp, họ nhận xét: Nhà cách mạng lão thành này là một “nhân vật hùng mạnh và được kính nể”, “người càng ngày càng tỏ rõ là người đứng đầu mới của đất nước”, “là nhân vật hàng đầu nhanh chóng nổi bật rõ nét trên sân khấu chính trị châu Á không ai sánh kịp”.

Từ ngày 15/10/1945, Xanh-tơ-ni đã tiến hành thương lượng bí mật, kéo dài gần 5 tháng nhưng không thường xuyên với Chính phủ Việt Nam: “Thường thường vào ban đêm, tôi mới tới chỗ ở của Hồ Chí Minh, một biệt thự trong công viên nhỏ phố Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền)”. Cuộc tranh luận gay go, kéo dài xoay quanh hai thuật ngữ “chế độ tự trị trong Liên hiệp Pháp” và chế độ “độc lập và hợp tác” trong lập trường của Chính phủ Việt Nam đã tạo hố ngăn sâu sắc giữa Pháp và Việt Nam.

Cùng thời gian đó, cuộc đàm pháp giữa đại diện Pháp với Trung Hoa dân quốc ở Trùng Khánh đi gần đến hồi kết. Ngày 28/02/1946, Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết, theo đó, “việc thay thế quân đội Trung Hoa bằng quân đội Pháp sẽ diễn ra giữa ngày 01 và 15/3, phải hoàn tất chậm nhất là ngày 31/3/1946”.

Cùng diễn biến tại Trùng Khánh, tại Hà Nội, cuộc thương lượng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Xanh-tơ-ni được tiến hành rất khẩn trương. Phía Pháp muốn nhanh chóng tiến tới một sự ký kết với Chính phủ Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn cho việc quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc và mở đường tiếp tục thảo luận về quyền lợi của Pháp tại Việt Nam.

Ngày 05/3/1946, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng nhất trí tán thành chủ trương “hòa để tiến” của ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đây là cơ sở để Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết với đại diện Chính phủ Pháp bản “Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng đại diện các bên sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 - Ảnh Tư liệu.

16 giờ ngày 6/3/1946, Hiệp định sơ bộ Việt – Pháp được ký kết tại Hà Nội. Ký vào văn bản phía Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó Chủ tịch Quân sự ủy viên hội Vũ Hồng Khanh; phía Pháp có Xanh-tơ-ni, Xa-lăng và Pi-nhông. Ngoài ra, buổi lễ còn có sự tham gia của đại diện Mỹ, Anh, Trung Hoa và Lu-i-ca-puýt (đại diện Đảng Xã hội Pháp).

Nội dung của Hiệp định sơ bộ và Bản phụ khoản gồm các điểm chính sau đây:

  • Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính của mình, và là một thành phần trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp.
  • Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết về việc hợp nhất ba kỳ.
  • Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15 nghìn quân Pháp vào thay thế quân đội Trung Hoa đóng ở phía Bắc vĩ tuyến 16 trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 1 phần 5, sau 5 năm sẽ rút hết.
  • Sẽ mở ngay cuộc điều đình chính thức để bàn về những liên lạc ngoại giao của Việt Nam, về chế độ tương lai của Đông Dương, về quyền lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở Việt Nam.

Hiệp định sơ bộ được ký kết đã tạo hành lang pháp lý cho cuộc thương lượng Việt – Pháp tiếp theo, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, đây là một thắng lợi ngoại giao quan trọng trong thời điểm đất nước đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Đó là “con đường đỡ hao tổn mà cũng chắc chắn hơn”[2]. Đồng chí Chu Ân Lai từng nhận xét về bản hiệp định sơ bộ: Đó là một việc đáng làm khuôn mẫu cho các đế quốc ở Thái Bình Dương và châu Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ 8/1945 nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận độc lập của chúng ta. Bản Hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng, và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao”./.


[1] Philippe Devillers, “Paris – Sài Gòn – Hà Nội - Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 – 1947”. Bản dịch tiếng Việt, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 119.

[2] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006, tr.77.


Nguồn: Thanh Tâm
11-03-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s