Đồng chí Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947


05-10-2018
Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 là chiến dịch quân sự lớn đầu tiên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như của quân đội ta. Trên cương vị Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ, đồng chí đã chỉ huy lực lượng vũ trang nhân dân đánh bại cuộc cuộc tiến công quy mô lớn và làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.

Cuối năm 1947, thực dân Pháp âm mưu mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực của ta, trên cơ sở đó phá huỷ căn cứ địa kháng chiến. Đánh lên Việt Bắc, Pháp còn nhằm khóa chặt biên giới Việt – Trung và ngăn chặn sự liên lạc giữa ta với quốc tế, tiêu diệt bộ đội chủ lực của Việt Nam để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh.

Thực dân Pháp huy động lực lượng quân sự mạnh nhất trên chiến trường Đông Dương gồm hải quân, lục quân và không quân với hơn 12.000 quân tinh nhuệ, 800 xe cơ giới, 40 máy bay, 40 ca nô, tàu chiến ồ ạt tấn công lên Việt Bắc. Cuộc tấn công của địch được triển khai theo hướng tập trung lực lượng mạnh tiến theo đường số 4 do Bô-phơ-rê (Beaufré) chỉ huy và đường Sông Lô do Com-muy-nan (Commuynan) đảm nhiệm, tạo thành 2 gọng kìm lớn từ phía Đông và phía Tây nhằm kẹp chặt căn cứ địa cách mạng Việt Bắc.

Ngày 7/10/1947, kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp chính thức bắt đầu, dạo màn là sự kiện quân Pháp nhảy dù xuống chiếm thị xã Bắc Cạn.


Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt phương án tác chiến trong chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947. Đồng chí Võ Nguyên Giáp là người chỉ tay trên bản đồ - Ảnh Từ điển BKQSVN 2009.

Nghiên cứu thế lực của ta và địch trên chiến trường, Bộ Tổng chỉ huy đứng đầu là đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định tập trung lực lượng đánh địch trên 3 mặt trận: “Đánh mạnh ở mặt trận Sông Lô; đường số 4 và đường số 3 nhằm phá vận tải tiếp tế địch, phục kích các đường rừng, đánh đường sông; tại những căn cứ của địch luôn quấy rối, với những vị trí nhỏ thì bao vây tiêu diệt để phối hợp với Việt Bắc”.

Cũng trong sáng ngày 9/10, khi quân Pháp nhảy dù xuống Cao Bằng, một máy bay của Pháp bị quân ta bắn rơi. Trong số những tài liệu thu được trong đó có bản kế hoạch tấn công lên Việt Bắc.

Giữa lúc quân Pháp tập trung lực lượng mạnh tấn công lên Việt Bắc, đồng chí Võ Nguyên Giáp đề nghị một kế hoạch táo bạo chủ động phân tán lực lượng chủ lực ở Việt Bắc đi nhiều nơi. Theo đó sẽ phân tán 2/3 chủ lực, đưa các đại đội về địa phương, bố trí các trung đoàn và tiểu đoàn ở những địa bàn chủ yếu trước hết là dọc đường số 4, dọc đường số 2, ven sông Lô và đường số 3 để tập kích từng bước làm tê liệt và bẻ gãy 2 gọng kìm chủ yếu của địch. Vận dụng công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” trong cách đánh du kích và vận động chiến.

Sau khi được Trung ương Đảng thông qua, ngày 18/10/1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp ký bản mệnh lệnh cho Khu 1 nêu rõ: “Tất cả các Trung đoàn của khu chỉ giữ lại Bộ chỉ huy Trung đoàn và 1 tiểu đoàn tập trung, các tiểu đoàn khác thì giải thể thành đại đội, đưa các đại đội về huyện được chỉ ra trong mệnh lệnh”.


Diễn biến chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947 - Ảnh Từ điển BKQSVN 2009.

Ngay lập tức, việc phân tán lực lượng đã làm thất bại một trong hai mục tiêu của thực dân Pháp trong cuộc tấn công lên Việt Bắc là tìm kiếm những trận giao chiến lớn để tiêu diệt lực lượng chủ lực của quân ta, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Ngày 17/10, đồng chí Võ Nguyên Giáp lệnh cho Trung đoàn 74 của Cao Bằng và Trung đoàn 11 của Lạng Sơn phải sẵn sàng tổ chức tập kích đánh địch trên đường số 4 và đồng thời chỉ thị cho Khu 10 chuyển gấp pháo lên thượng nguồn sông Lô để phục kích tàu địch, làm chậm bước tiến của quân Pháp so với kế hoạch.

Kết quả là, ngày 25/10/1947, pháo binh của quân ta đã bắn chìm 2 tàu chiến Pháp tại Đoan Hùng và bắn hỏng 2 tàu khác. Việc tiếp tế đường thủy trên sông Lô bị chậm 10 ngày, địch phải tiếp tế cho lực lượng ở Tuyên Quang và Chiêm Hóa bằng máy bay. Chiến thắng sông Lô đã gây tiếng vang rất lớn, lần đầu tiên quân đội ta vận dụng thành công nghệ thuật quân sự “tiến công trong phản công trên địa hình rừng núi”.

Ngày 27/10, đồng chí Võ Nguyên Giáp lệnh cho các mặt trận yêu cầu: “Mặt trận đường số 4 kiên quyết tổ chức một số trận phục kích đánh tiêu diệt địch, mặt trận đường số 3 đánh bao vây cắt tiếp tế ép địch rút khỏi chợ Đồn, Chợ Giã. Mặt trận sông Lô đưa pháo lên đánh địch trên sông Gâm bức địch rút khỏi Chiêm Hóa, Đầm Hồng”.

Sáng ngày 31/10, Trung đoàn 11 ở Lạng Sơn báo tin phục kích thắng lợi ở Bông Lau. Chiến thắng này đã khẳng định chủ trương mở 3 mặt trận nhằm vào tuyến vận chuyển thiết yếu của địch là chính xác. Pháp buộc phải tiếp tế ở Bắc Cạn và Cao Bằng bằng thả dù, đồng thời cắt quân đóng một số đồn bốt ở dọc đường. Ngày 23/10, cánh quân của Bô-phơ-rê đến Đài Thị nhưng 3 ngày sau cánh quân của Com-muy-nan đến đây thì cánh quân của Bô-phơ-rê đã rút về Chợ Đồn. Địch không thực hiện được ý định hội quân.


Tàu chiến Pháp bị đánh chìm ở sông Lô - Ảnh TL BTLSQSVN.

Ngày 10/11, pháo binh của ta đã đánh thắng trận lớn trên sông Gâm đánh đắm 4 trong số 5 tàu của Pháp đi từ Chiêm Hóa đi Tuyên Quang. Như vậy các hướng tiếp tế cho 2 cánh quân viễn chinh Pháp trên cả đường sông và đường bộ đều bị uy hiếp nặng mà không quân Pháp không đủ khả năng đảm bảo tiếp tế hàng không. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận định: “Quân Pháp sẽ rút nhưng vẫn đề phòng khả năng quân Pháp tấn công vào căn cứ”.

Đến ngày 21/11, khi quân Pháp đang bí mật rút khỏi Tuyên Quang một bộ phận nhỏ xuôi sông Lô, còn đại bộ phận tiến sang Bình Ca đi về phía Đông. Đồng chí Võ Nguyên Giáp ra lệnh: “Chuẩn bị đánh địch trên đường rút lui và bố trí bảo vệ các cơ quan”.

Trên mặt trận sông Lô liên tiếp diễn ra các trận tập kích đánh đắm một số tàu, diệt một bộ phận quân Pháp rút lui. Các đại đội độc lập được phân tán phối hợp với dân quân, du kích tấn công địch ở khắp nơi gây thêm khó khăn cho chúng.

Đến ngày 19/12/1947, cuộc tấn công lên Việt Bắc của quân Pháp kết thúc. Quân ta hoàn toàn làm chủ các thị xã, thị trấn như: Tuyên Quang, Bắc Giang, Thái Nguyên, Đáp Cầu, Vĩnh Yên, Việt Trì, Phúc Yên. Chỉ còn lại một lực lượng quân Pháp ở Cao Bằng, Bắc Cạn cùng với những vị trí bảo vệ giao thông trên đường số 4 từ Lạng Sơn đi Cao Bằng, và đường số 3 từ Cao Bằng đi Bắc Cạn.


Những ngôi mộ quân Pháp ở sông Lô năm 1947 - Ảnh TL BTLSQSVN.

Chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông năm 1947 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hoàn thành chỉ thị “phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp” tại Hội nghị Trung ương ngày 15/10/1947. Đã loại khỏi vòng chiến hơn 7.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh; đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn và làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.

Trong cuốn hồi ký “Chiến đấu trong vòng vây”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về bài học kinh nghiệm sau chiến dịch này: “… chủ động khước từ trận đánh lớn mà kẻ địch cố ý tìm kiếm với ý định đánh quỵ chủ lực ta. Một kinh nghiệm được rút ra trong chiến tranh cách mạng là khi lực lượng còn yếu thì trì hoãn trận đánh quyết định, đồng thời sử dụng những đơn vị vừa và nhỏ nhằm những nơi hiểm yếu mà tiến công tiêu diệt từng bộ phận địch.”

Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là trận đánh lớn đầu tiên của đồng chí Võ Nguyên Giáp trên cương vị là Tổng chỉ huy. Qua chiến dịch chúng ta thấy được thiên tài quân sự trong con người Đại tướng - một người không xuất thân từ trường lớp quân sự nhưng đã xây dựng, chỉ huy lực lượng vũ trang nhân dân đánh bại được quân viễn chinh nhà nghề của thực dân Pháp, tạo ra tiền đề và điều kiện để chuyển cuộc kháng chiến chống Pháp sang một giai đoạn mới.

Đến ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, khi đó ông 37 tuổi./.


Nguồn: Cao Phương Thảo
05-10-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s