Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 - Phần 1: Nghi binh


03-01-2018
Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc đã chứng minh sự bế tắc của Mỹ - ngụy cả về chiến thuật và chiến lược, bởi những mục tiêu mà địch đề ra không thực hiện được. Trên chiến trường miền Nam, quân ta tiếp tục giữ vững và phát triển quyền chủ động chiến lược. Lực lượng vũ trang ba thứ quân phát triển nhanh chóng, vận dụng linh hoạt các phương thức tác chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch.

Nhận thấy tình thế và thời cơ chiến lược đã xuất hiện, tháng 6/1967, Bộ Chính trị đã thông qua quyết tâm chiến lược: Nỗ lực đến mức cao nhất, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn, dự kiến là trong năm 1968. Phương pháp là tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Tập trung lực lượng quân sự, lực lượng chính trị tiến công đồng loạt, bất ngờ vào nơi địch sơ hở nhất (lúc này là các đô thị); hướng trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Sử dụng những quả đấm chủ lực mạnh, đánh quỵ từng binh đoàn chủ lực nguỵ, thu hút, kiềm chế lực lượng cơ động của Mỹ ở các chiến trường rừng núi (Trị Thiên, Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ). Phối hợp 3 mũi giáp công trên cả 3 vùng chiến lược.

Để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược, Thu - Đông năm 1967, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho các chiến trường đẩy mạnh hoạt động nhằm tiêu diệt thêm sinh lực địch, tạo điều kiện cho các đơn vị, địa phương tiếp tục công tác chuẩn bị, đồng thời thực tập và rút kinh nghiệm cách đánh vào thành phố.

Tháng 12/1967, Bộ Chính trị họp quyết định “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới”. Chủ trương này đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (tháng 1/1968) thông qua.

Để tranh thủ yếu tố bất ngờ. Bộ Chính trị quyết định thời gian bắt đầu cuộc Tổng tiến công là dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân năm 1968.


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 12/1967 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Thực hiện kế hoạch nghi binh thu hút địch, đêm 20/1/1968 (10 ngày trước Tết Mậu Thân), quân ta nổ súng tấn công cứ điểm Khe Sanh và tuyến phòng thủ đường số 9 - Quảng Trị.

Đòn tiến công này làm cho địch hoàn toàn bất ngờ. Chúng nhận định, mặt trận Khe Sanh là hướng tiến công chính của ta. Tổng thống Mỹ Johnson hoảng hốt chỉ thị cho các tướng Mỹ phải bảo vệ Khe Sanh bằng bất cứ giá nào, cho lập Phòng Tình hình đặc biệt tại Nhà trắng để theo dõi chiến sự ở mặt trận đường số 9.

Sau khi đột phá tiêu diệt một số cứ điểm ở phía tây đường số 9, ngày 6/2/1968, bộ đội ta tiến công cứ điểm Làng Vây, nơi có 4 đại đội biệt kích nguỵ đóng giữ. Bộ đội thiết giáp lần đầu tiên ra trận, phối hợp cùng bộ binh và công binh tổ chức thành công trận đánh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc.

Tiếp đó, từ ngày 10/2, ta chuyển sang vây lấn Tà Cơn - cụm cứ điểm lớn của quân Mỹ trên tuyến phòng thủ phía tây đường số 9. Ta đã xây dựng trận địa tiến công vào sát hàng rào căn cứ địch, đánh bại nhiều cuộc phản kích của chúng.


Xe tăng PT-76 số hiệu 555 thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 198, Trung đoàn xe tăng 203 trưng bày tại Bảo tàng LSQS Việt Nam gắn liền với chiến thắng trận đầu ra quân ở Tà Mây, Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968 của bộ đội Tăng – Thiết giáp.

Ngày 1/4, địch huy động 17 tiểu đoàn quân Mỹ - nguỵ mở cuộc hành quân lớn nhằm giải toả Khe Sanh. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Ngày 16/4, địch rút lực lượng hành quân, giải toả. Ta tiếp tục vây hãm Tà Cơn.

Ở phía đông mặt trận, ta đánh nhiều trận nhỏ ở khu vực Đông Hà, Gio Linh, Cửa Việt, đánh giao thông trên đường số 9, thu hút và kìm chân 10 tiểu đoàn Mỹ - nguỵ.

Sau đợt 1, ý đồ chiến lược của ta trong đợt 2 là: vây hãm Khe Sanh, kìm giữ và diệt địch trên đường số 9.

Cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra ác liệt. Sang tháng 5/1968, ta bổ sung thêm quân chủ lực vào chiến trường, tiếp tục vây hãm Khe Sanh, tổ chức lại thế trận vây hãm Tà Cơn, thu hút giam chân chủ lực địch, tạo điều kiện cho Trị Thiên tiến công và nổi dậy. Một loạt trận tiến công nhằm cắt đứt đường số 9 được tổ chức khiến địch ở Tà Cơn rơi vào thế cô lập.

Phát hiện thấy lực lượng mới của ta, Mỹ vội điều Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ mở cuộc hành quân nhằm phá vây. Ta tổ chức nhiều trận tập kích trên đường chúng tiến công, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở Tân Lâm, Cửa Việt khiến cho địch phải co về giữ phía đông đường số 9 và khu nam Tà Cơn, Cửa Việt…


Lính Mỹ tháo chạy khỏi Khe Sanh - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Lúc này, do phải lo đối phó với lực lượng vũ trang của ta ở các vùng đô thị, Mỹ - nguỵ không thể điều thêm lực lượng lên mặt trận đường số 9. Ngày 26/6/1968, địch tuyên bố rút khỏi Khe Sanh. Các lực lượng vũ trang ta nhanh chóng siết chặt vòng vây, chặn đánh quyết liệt, làm cho địch phải kéo dài cuộc rút quân tới 17 ngày, lực lượng của chúng bị thiệt hại nặng.

Qua 170 ngày đêm kiên cường tiến công và vây hãm, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,7 vạn tên địch (trong đó có 1,3 vạn tên Mỹ), phá huỷ hàng trăm phương tiện chiến tranh, thực hiện thành công việc thu hút và kìm chân một lực lượng lớn quân địch (lúc cao điểm là 32 tiểu đoàn, trong đó có 26 tiểu đoàn Mỹ tức 1/4 số tiểu đoàn chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam), Khe Sanh đã thực sự trở thành “Khe tử” đối với cả Mỹ và nguỵ. Làm chủ khu vực Khe Sanh, ta đã giải phóng một địa bàn quan trọng ở phía Tây đường số 9, tạo điều kiện mở rộng tuyến đường vận tải chiến lược Bắc - Nam, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân ta trong năm 1968.

Đối với Mỹ - nguỵ, việc rút chạy khỏi Khe Sanh đánh dấu sự thất bại nặng nề về quân sự và chính trị của chúng, làm tăng thêm mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ, góp phần thúc đẩy phong trào phản chiến trong lòng nước Mỹ và trên thế giới dâng cao./.


Nguồn: Hương Giang
03-01-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s