Khởi nghĩa Hai Bà Trưng


04-05-2015
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 đầu Công nguyên) là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của nhân dân Âu Lạc chống lại thế lực phong kiến phương Bắc.
Trưng Trắc và Trưng Nhị sinh năm Giáp Tuất (năm 14 đầu Công nguyên), là hai chị em sinh đôi, con gái lạc tướng Mê Linh, thuộc dòng dõi Hùng Vương. Quê hương của Hai Bà là Cổ Lai, nay là xã Mê Linh, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc. Cha là ông Trưng Định (Hùng Định), văn võ toàn tài, được cử làm quan lạc tướng đất Mê Linh. Thân mẫu là bà Trần Thị Đoan (tục danh là bà Man Thiện), cháu bên ngoại Hùng Vương, goá chồng từ sớm, đảm đang việc nuôi dạy hai con gái theo tinh thần yêu nước và thượng võ.

 

Năm Canh Thìn (năm 32 đầu Công nguyên), bà Trưng Trắc kết duyên với Thi Sách - con trai quan Lạc tướng huyện Chu Diên.

 

 

Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo ngược, tham lam. Hai Bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa. Đúng lúc đó, Thi Sách bị Tô Định lập mưu giết chết. Hận giặc hãm hại nhân dân, giết hại chồng mình, năm 40, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát trên Sông Hồng thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) với lời thề trước giờ xuất binh:

 

 

Một xin rửa sạch nước thù

 

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này
                                                         (Theo Thiên Nam ngữ lục)

 

Ngày 07 tháng Giêng năm 40, Bà Trưng mở tiệc lớn khao quân ở Hạ Lôi 10 ngày, rồi chia quân làm 5 đạo cùng tiến về thành Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) - thủ phủ của chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ. Sau đó, nhiều cuộc khởi nghĩa ở khắp 4 quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (Trung Trung Bộ) và Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc) liên tiếp nổ ra hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

 

 

Trước sức mạnh như vũ bão của đội quân Hai Bà, quân Hán không kịp chống đỡ, Tô Định rút chạy về Trung Quốc. Chẳng bao lâu, trong toàn quận Giao Chỉ, nghĩa quân tổng công kích, thu phục được 65 thành.

 

 

Đất nước giải phóng, Hai Bà thu quân về thành Phong Châu. Trưng Trắc lên ngôi Vương, đứng đầu bộ máy nhà nước độc lập tự chủ, tiến hành phong thưởng thứ bậc công thần cho các tướng sĩ, cắt cử một số tướng sĩ trở về căn cứ cũ xây dựng doanh điện phòng vệ làm hậu cứ cho triều đình.

 

 

Sử gia Lê Văn Hưu đã đánh giá cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng như sau: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà, vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được…” (1).

 

 

Tháng 4 năm 42, Hán Quang Vũ sai Mã Viện đem 2 vạn quân và 2 nghìn thuyền, xe sang xâm lược nước ta. Quân Trưng Vương chiến đấu rất dũng cảm nhưng vì lực lượng chênh lệch nên sau trận đánh lớn ở Lãng Bạc đã rút về Cấm Khê, vùng Suối Vàng và núi Vua Bà (thuộc huyện Thạch Thất, Ba Vì, Hà Nội). Sau một thời gian anh dũng chống địch ở Cấm Khê, Trưng Vương và quân ta rút lui về giữ thành Mê Linh, Trưng Nhị về giữ thành Dền.

 

 

Giữ thành Mê Linh đến tháng 5 năm 43, quân ta thua trận. Trưng Vương cùng Trưng Nhị về Hát Môn rồi tuẫn tiết giữa dòng sông Hát. Đến đây cuộc kháng chiến do Hai Bà Trưng lãnh đạo về cơ bản kết thúc, nhưng ở nhiều nơi, nghĩa quân và nhân dân Việt cổ vẫn tiếp tục chống giặc. Đến tháng 11 năm 43, cuộc kháng chiến chống quân Hán của nhân dân ta mới chấm dứt.

 

 

Sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết “Họ Trưng giận Thái thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi.…đại trượng phu…nên nuôi lấy khí phách cương trực và chính đại đó …”(2).

 

 

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy chỉ đưa lại nền độc lập cho đất nước trong gần ba năm, nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của thời kỳ sau Công nguyên, là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí hiên ngang, khí phách quật cường của dân tộc. Bản anh hùng ca ấy tuy ngắn ngủi nhưng tiếng vang của nó đời đời bất diệt, tiêu biểu cho ý chí vươn lên và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam.

 

 

(1), (2): Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỷ, quyển 3).

 


Nguồn: Thanh Tâm
04-05-2015
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s