Khởi nghĩa Bà Triệu


29-06-2015
Khởi nghĩa Bà Triệu là cuộc nổi dậy tiêu biểu, mạnh mẽ nhất, rộng lớn nhất và “là đỉnh cao của phong trào nhân dân thế kỷ II – III, nổ ra ngay trong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị trên đất nước ta và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa dân ta. Có thể nói, khởi nghĩa Bà Triệu là sự kết tinh của một chặng đường dài đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân ta, cuộc khởi nghĩa đã để lại những bài học lịch sử về việc tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ địa, về phương thức đấu tranh chống xâm lược”.
Cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, đất nước ta nằm dưới quyền thống trị của cha con, anh em Sĩ Nhiếp. Năm 226, sau khi Sĩ Nhiếp, con là Sĩ Huy chống lại nhà Ngô, nổi binh giữ quận Giao Chỉ. Nhà Ngô sai thứ sử Lữ Đại đem đại binh vượt biển sang đàn áp Sĩ Huy. Gia đình Sĩ Huy cùng nhiều tướng lĩnh bị giết, hàng vạn nhân dân Cửu Chân nhân đó khởi nghĩa cũng bị tàn sát.

 

Dưới ách thống trị của nhà Ngô, nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân bị áp bức, bóc lột rất nặng nề. Chính vì vậy, người Giao Chỉ, Cửu Chân đã không ngừng nổi dậy chống lại ách thống trị của nhà Đông Ngô, trong đó cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tác động mạnh nhất tới dân chúng và làm chính quyền đô hộ hết sức lo ngại.

 

 

Sách “Đại việt sử ký toàn thư” ghi về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu như sau: “Người Cửu Chân lại nổi lên đánh phá thành ấp. Châu, quận rối động. Ngô vương cho Hành dương đốc quân đô úy là Lục Dận làm Thứ sử kiêm Hiệu úy. Dận đến nơi, lấy ân tình ra hiếu dụ hàng phục đến ba vạn nhà, trong châu lại yên. Đến sau người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu (Ẩu vú dài ba thước vắt lên sau lưng, thường ngồi đầu voi đánh nhau với giặc) họp quân đánh cướp quận, huyện, Dận dẹp yên được”.

 

 

Sách “Lịch sử Việt Nam” chép “Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh, có anh là Triệu Quốc Đạt, một thủ lĩnh có thế lực ở huyện Quân Yên, quận Cửu Chân (miền núi Nưa, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa). Bà là người có sức khỏe, có chí lớn và giàu mưu trí. Năm 19 tuổi, người con gái đầy khí phách ấy đã cùng anh tập hợp những nghĩa sĩ trên đỉnh núi Nưa, mài gươm, luyện võ, chuẩn bị khởi nghĩa. Nhân dân khắp vùng nô nức hưởng ứng công cuộc cứu nước của Bà Triệu”.

 

 

Đứng trước vận mệnh của dân tộc, Bà Triệu đã khẳng khái: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối chứ không thèm bắt chước người đời, cúi đầu cong lưng để làm tỳ thiếp người ta”.

 

 

Vua Lý Nam Đế khen Bà Triệu là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”.

 

 

Sử gia Ngô Sĩ Liên (thế kỷ XV) đã viết: “Bà Triệu là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của đức Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới”.

 

 

Nhân dân tôn vinh Bà Triệu là Ngụy Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều) và Lệ Hài Bà vương (Vua Bà ở vùng biển mỹ lệ).

 

 

Năm 248, cuộc khởi nghĩa do Triệu Quốc Đạt cùng em gái là Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) lãnh đạo bùng nổ. Bà Triệu làm hịch truyền đi khắp nơi, kể tội nhà Ngô, kêu gọi mọi người đứng dậy đánh đuổi quân xâm lược.

 

 

Bà Triệu cùng nghĩa quân vượt sông Mã xuống vùng Bồ Điền để xây dựng căn cứ địa. Về mặt quân sự, nơi đây có đủ yếu tố để xây dựng một căn cứ thuận lợi cho cả thế “công” và “thủ”. Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông Âu ra sông Mã rút lên mạn Quân Yên hoặc tới căn cứ núi Nưa lúc cần; lại có thể chủ động tấn công ra phía Bắc theo lối Thần Phù để khống chế địch ở mặt này.

 

 

Dựa vào địa hình hiểm yếu ở Bồ Điền, Bà Triệu đã cùng anh em họ Lý là Lý Hoằng Công, Lý Mỹ Công và Lý Thành Công chỉ huy nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồn lũy vững chắc. Thanh thế nghĩa quân ngày càng lớn, khắp hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ, nhân dân một lòng hưởng ứng công cuộc cứu nước của Bà Triệu. Các thành ấp của giặc Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị hạ. Nghĩa quân đã tấn công quận lỵ Tư Phố - căn cứ quân sự lớn của nhà Đông Ngô tại Cửu Chân. Thừa thắng, nghĩa quân chuyển hướng hoạt động tại vùng đồng bằng sông Mã.

 

 

Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan ra Giao Chỉ, vào tận Cửu Đức, Nhật Nam. Thứ sử Châu Giao bị giết, quan lại đô hộ ở Châu Giao hết sức hoảng sợ. Sử Nhà Ngô thừa nhận: Năm 248 “toàn thể Châu Giao náo động”.

 

 

Khi anh trai là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu trở thành người lãnh đạo nghĩa quân. Nghĩa quân chiến đấu liên tiếp nhiều trận, thế lực ngày càng mạnh, quân số lên tới hàng vạn người.

 

 

Trước tình hình đó, chính quyền đô hộ đã cử Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu mang theo 8.000 quân tiếp viện để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Khi mới tới đất Giao Châu, Thứ sử Lục Dận đã dùng mưu chước, tiền bạc mua chuộc một số thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ ở các địa phương. Hoàng Ngô và một số thủ lĩnh cùng với ba ngàn hộ ở Cao Lương (Hợp Phố) đã về hàng.

 

 

Ổn định được Giao Chỉ, Lục Dận dốc toàn bộ lực lượng tấn công Cửu Chân. Cuộc tấn công kéo dài hơn hai tháng. Tuy nhiên, căn cứ Bồ Điền vẫn đứng vững, lực lượng giặc bị tổn thất nặng nề, Lục Dận phải điều thêm quân tăng cường bao vây.

 

 

Sau đó, Lục Dận tập trung lực lượng tấn công vào các doanh trại của nghĩa quân. Quân Ngô hơn hẳn quân khởi nghĩa của Bà Triệu về mặt tổ chức cũng như vũ khí. Quân khởi nghĩa suy yếu dần và tan vỡ.

 

 

Ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (tức năm 248), Bà Triệu và nghĩa quân đã chiến đấu rất dũng cảm để phá vòng vây, rút về núi Tùng. Bà quỳ xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn.

 

 

Khởi nghĩa Bà Triệu có ý nghĩa lịch sử to lớn, là mốc son trên chặng đường dài chống ngoại xâm của dân tộc suốt 10 thế kỷ. Cuộc khởi nghĩa không chỉ làm rung chuyển chính quyền đô hộ mà còn góp phần thức tỉnh ý thức dân tộc, tạo đà cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí sau này.

 

 

Đây là cuộc nổi dậy tiêu biểu, mạnh mẽ nhất, rộng lớn nhất và “là đỉnh cao của phong trào nhân dân thế kỷ II – III, nổ ra ngay trong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị trên đất nước ta và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa dân ta. Có thể nói, khởi nghĩa Bà Triệu là sự kết tinh của một chặng đường dài đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân ta, cuộc khởi nghĩa đã để lại những bài học lịch sử về việc tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ địa, về phương thức đấu tranh chống xâm lược”. (1)

 

 

(1). Lịch sử Việt Nam

 


Nguồn: Thanh Tâm
29-06-2015
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s