Chiến dịch Trà Vinh


12-05-2016
Chiến dịch Trà Vinh (từ 25/3 đến 7/5/1950), chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang Khu 8 tại các huyện Cầu Ngang, Cầu Cống, Trà Cú, Bắc Trang, Tiểu Cần (tỉnh Trà Vinh) nhằm phá hệ thống tháp canh, đánh bại âm mưu của Pháp dùng người Khơme chống kháng chiến, gây dựng lại cơ sở trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp với mặt trận chính Sóc Trăng. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 tiểu đoàn bộ đội chủ lực khu (307, 308, 309, 310 và 312), 1 trung đội liên quân Miên - Việt và lực lượng vũ trang địa phương. Lực lượng địch ở Trà Vinh gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội cơ giới, 1 đại đội pháo binh và hàng nghìn lính bảo an người Khơ-me. Chiến dịch chia làm 3 đợt:
 
 

Đợt 1 (từ 25/3 đến ngày 1/4/1950), 23 giờ ngày 25/3, ta nổ súng. Gần sáng ngày 26/3, ta mới hạ được tháp canh Xà Lơn, tước vũ khí và giải tán toàn bộ lính bảo an người Khơ-me ở hai sóc Xà Lơn và Cổ Chi. Các nơi khác chỉ tước được một phần vũ khí của bảo an người Khơ-me, còn phần lớn chúng chạy thoát. 9 giờ sáng ngày 26/3, địch cho 2 trung đội từ Tiểu Cần xuống thăm dò, đến ngã ba rạch Lớp gặp 1 bộ phận quân ta chặn đánh, địch chết 10 tên, bỏ lại 1 khẩu tiểu liên, số còn lại chạy về Tiểu Cần. 

 

DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH TRÀ VINH
(Từ ngày 25/3 đến ngày 6/5/1950)

Ngày 27/3, địch đổ bộ 200 quân lên rạch Lớp. Cùng ngày, địch phái 1 tiểu đoàn bộ binh và 1 lực lượng cơ giới hình thành 1 mũi đánh vào đội hình ta đang bao vây Cầu Cống. Bộ chỉ huy kịp thời chỉ thị cho Tiểu đoàn 307 và 308 tập trung đánh cánh quân này; đến tối ta hạ được 5 tháp canh, thu toàn bộ vũ khí và giải tán số bảo an người Khơ-me của ba sóc. 10 giờ ngày 28/3, địch từ Giồng Lức tổ chức 2 cánh quân, dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh đánh xuống Cầu Cống. Cánh 1 - Tiểu đoàn 1 Âu - Phi của Trung đoàn 6 tiến xuống đến giồng Cổ Chi lọt vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 308. Ta nổ súng, địch chết và bị thương nhiều, số còn lại quay chạy về Giồng Lức cố thủ. Cánh 2 - một tiểu đoàn Ma-rốc tiến qua rạch Lớp đến rạch Te bị một bộ phận quân ta chặn đánh. Thấy cánh 1 bị diệt, cánh 2 không dám tiến vào Cầu Cống mà phân thành 2 bộ phận tiến xuống Trà Trót (Tập Sơn) và ấp Ba (ngã ba Len) để chạy về Bắc Trang. Địch về đến giồng Bà Của - Cổ Rạng, bị một đại đội của Tiểu đoàn 307 chặn đánh, chúng phải dừng quân, tổ chức phòng ngự chờ viện binh. 

Ngày 29/3, địch thả 70 dù tiếp tế cho Tiểu đoàn Ma-rốc. Ta xung phong lấy được 3 dù, thu 2 hòm đạn và 1 máy vô tuyến điện. Cánh quân Ma-rốc cố gắng phá vòng vây để trở về Bắc Trang. Địch cũng tiếp viện cho lực lượng ở Trà Cú 100 dù, sau đó cánh quân này tổ chức đánh ra; ta bố trí mỏng nên một trung đội bị tiêu hao nặng. 

Ngày 30/3, địch được tăng viện nhưng chưa dám đánh ra. Quân ta bao vây và hạ được tháp canh Nomen, bức hàng địch ở tháp canh Trà Sót, tước khí giới và giải tán toàn bộ bảo an ở sóc Trà Sót. Quân địch ở Cầu Cống phối hợp với một bộ phận ở Trà Cú cùng 30 xe bọc thép tập trung ở Sóc Ruộng tiến đánh quân ta ở Đôn Châu. Bộ chỉ huy lệnh cho Tiểu đoàn 310 chặn đánh. Sáng 1/4, cánh quân này nhờ có gián điệp chỉ điểm, khi tiến xuống đã phát hiện trận địa phục kích của ta. Trước tình thế bất lợi, ta quyết định nổ súng rồi xung phong, bắt được một số tù binh, số khác bỏ chạy, ta truy kích, nhưng do lực lượng quá ít, địch tập trung binh lực và cơ giới phản kích, đội hình quân ta rối loạn, địch đánh thẳng vào sở chỉ huy và giành lại số quân vừa bị ta bắt. Ta tiêu diệt một số tên. Tiểu đoàn 310 bị tiêu hao nặng. 

Đợt 2 (từ ngày 7 đến ngày 11/4/1950):  Đêm 7/4, tiểu đoàn đào hào lấn vào tiếp cận địch rồi dùng xe trấu, chất củi xung quanh cứ điểm phóng hỏa đốt (hỏa công). Đốt 2 đêm liền nhưng không kết quả vì địch dùng hoả lực bắn mạnh ngăn chặn ta tiếp cận. Sáng ngày 9/4, Tiểu đoàn 308 hạ được 1 tháp canh, địch ở 2 tháp còn lại địch sợ bỏ chạy về Cầu Cống. Cùng ngày, Tiểu đoàn 310 đánh đắm 1 tàu chiến trên sông Láng Sắt. Ngày 11/4, địch dùng 1 tiểu đoàn có cơ giới và pháo binh đi cùng từ Cầu Ngang tiến xuống chi viện cho Đôn Châu. Bộ chỉ huy chỉ thị cho Tiểu đoàn 307 ngừng đánh Đôn Châu, tập trung lực lượng đánh quân tiếp viện. Nhưng vì Tiểu đoàn 307 bố trí quân phân tán, tập trung không kịp, chưa tổ chức chiến đấu xong thì địch đã đến sát trận địa phục kích. Tiểu đoàn vẫn cố gắng tổ chức đánh tan được 4 đợt xung phong, tiêu diệt được một số quân và xe cơ giới, buộc địch phải vòng qua cánh đồng trống để vào Đôn Châu. 

Đợt 3 (từ ngày 30/4 đến ngày 7/5/1950): 21 giờ đêm 30/4, quân ta bao vây các bốt Sam Bua, Đông Ray, pháo kích sân bay Trà Vinh, tước vũ khí bảo an Bào Kiến, hạ lô cốt Lu Tu, chiếm bốt Hồ Kiếm. Dân quân du kích được sự hỗ trợ của công binh, phá các cầu Ô Chác, Huyền Hội; Bà Lãnh và phá lộ. 

Ngày 1/5, hạ lô cốt An Bình tại vàm Bông Bót, hạ lô cốt Trinh Phụ trên đường Tiểu Cần - Mặt Bắt, đốt cháy lô cốt Đại Trường, Lò Ngò, Lâm Vồ và Sa Đô, hạ lô cốt Cầu Tre, Tha La, Đình Ông, bao vây tiến công mạnh các lô cốt Ban Chang, Ô Tà Rưng, giồng Cây Hẹ, Sóc Kha. Dân quân tràn vào phá các trục lộ giao thông, đột nhập Cầu Kè quấy rối. Trong ngày, phi cơ, pháo binh địch bắn dữ dội vào vùng Huyền Hội, Ô Đùng, Cầu Kè. Sau đó địch từ Ô Chát cắt đường ruộng xuống chi viện cho Tiểu Cần. 

Ngày 2/5, địch cho phi pháo bắn phá vùng phụ cận và dùng 25 xe chở khoảng 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn RTA, thận trọng tiến quân xuống Tiểu Cần. Ngày 3/5, ta hạ lô cốt Ô Tà Rưng, đêm đến pháo kích Tiểu Cần, Cầu Kè. Dân quân khẩn trương phá lộ. Ngày 7/5, một tiểu đoàn bộ binh địch có 25 xe Cờ-ra-béc (Crabes) và phi pháo yểm trợ, càn vào Tân An - Hựu Thành bắn giết dã man. Đến 16 giờ 30 phút, ta chặn đánh gần chợ Thầy Phó xã Hựu Thành hạ ba xe Cờ-ra-béc. Hơn nửa giờ sau cánh quân của ta ở Ngã Chánh cấp tốc vận động đánh vào sườn đội hình địch. Chúng hoảng sợ rút về đồng Trà Mẹt, bỏ lại nhiều xác chết và vũ khí. 

Kết quả ta đã diệt, bắt, gọi hàng gần 1000 địch, triệt hạ 30 tháp canh; bức rút 6 tháp canh khác; thu 240 khẩu súng và cơ bản đã xoá bỏ hệ thống tổ chức bảo an người Khơ-me của địch nằm trong thôn xóm.  Chiến dịch Trà Vinh thắng lợi đã tạo được thanh thế cho các đơn vị chủ lực, vừa động viên tinh thần giết giặc lập công của lực lượng vũ trang địa phương, gây được lòng tin lớn với quần chúng nhân dân; đồng thời đã làm hoang mang, rệu rã tinh thần và tổ chức của địch trong vùng, đặc biệt là lực lượng bảo an người Khơ-me. 
 
 

Nguồn: Minh Nguyệt
12-05-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s