Chiến dịch Sông Lô


04-03-2016
Chiến dịch Sông Lô (từ ngày 29/4 đến 31/5/1949), chiến dịch phản công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nhằm đánh bại cuộc hành quân Pô-môn của Pháp vào hậu phương ta ở Phú Thọ, Tuyên Quang.

Địch có khoảng 2600 quân. Lực lượng ta sử dụng gồm 8 tiểu đoàn bộ binh: Tiểu đoàn 510 và 532 (có 1 đại đội) thuộc Trung đoàn Sông Lô; Tiểu đoàn 18, 19 và 23 (mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội) thuộc Trung đoàn 308 chủ lực của Bộ; Tiểu đoàn 630 (3 đại đội) thuộc Trung đoàn 115; Tiểu đoàn 626 (3 đại đội) thuộc Mặt trận 3 phái tới; và 1 đại đội pháo thuộc Vĩnh Yên. Ngoài ra còn có 2 Đại đội pháo 75mm (2 khẩu), 2 khẩu phóng bom và 1 đại đội công binh thuộc Liên khu 10. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: đồng chí Bằng Giang làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Vương Thừa Vũ và Lâm Kính làm Chỉ huy phó. Chiến dịch diễn ra 3 đợt:

Đợt 1 (từ 29/4 đến 4/5), 5 giờ ngày 29/4, địch bắt đầu vượt sông Hồng, chia thành 4 mũi, phối hợp với quân nhảy dù xuống Bãi Bằng, Phú Nham thực hiện càn quét vùng Lâm Thao, trọng điểm là Cổ Tuyết, Phú Ninh, Phú Nham. Cụ thể: Tiểu đoàn Ta-bo 10 chia thành hai mũi vượt sông Hồng ở Giá Áo và Tam Nông, tiến thẳng sang Cổ Tuyết. Mũi thứ ba do một đại đội thuộc trung đoàn (lính người Ma-rốc, Tuy-ni-di, Sê-nê-gan) vượt sông Hồng ở Triều Dương, tiến theo quốc lộ 2 lên Cổ Tuyết. Mũi thứ tư do tiểu đoàn Mường I từ Việt Trì ngược sông Lô, đổ bộ lên An Lão, tiến vào Phù Ninh. Đến 15 giờ, các mũi càn quét của địch tới được địa điểm đã định. 

Về ta, Tiểu đoàn 510 đang đi làm nhiệm vụ tiếp nhận tù binh, tới Đào Giã nhận được tin đã cấp tốc hành quân trở lại, 2 giờ ngày 30/4, mới về tới địa điểm tác chiến. Tiểu đoàn lập tức chia thành hai mũi: mũi 1 do đại đội 700 đánh vào Phú Nham, mũi 2 Đại đội 706 đánh vào Trại Cần nhưng khi tới nơi thì địch đã rút. 

Ngày 30/4 và 1/5, địch càn quét vùng Cổ Tuyết, Tiên Kiên, Xuân Lãng. Ngày 2/5, Tiểu đoàn Ta-bo tiến chiếm nhà thờ Hà Thạch, thị xã Phú Thọ và bến đò Đoan. Một bộ phận địch ở hữu ngạn sông Hồng từ Bà Triệu tiến lên càn quét Tứ Cường, Phú Cường, Than Uyên chiếm đóng nhà thờ Hiền Quân, càn tiếp lên phía Gia Dụ. Quân dù và Tiểu đoàn Mường I từ An Lão rút dần về Việt Trì. Ở Phú Thọ, Hà Thạch, địch càn quét nhỏ ra xung quanh và lấy tre gỗ làm công sự. 

Ngày 4/5, Tiểu đoàn 510 phục kích địch ở gần Hà Thạch, diệt 18 tên, làm bị thương một số, ta giải thoát được 15 người phu bị địch bắt làm công sự. Sau đó tiểu đoàn phân tán lực lượng thực hiện hai nhiệm vụ “bảo vệ gặt chiêm” và “bám đánh địch” nhưng cả hai nhiệm vụ đều không hoàn thành. 

Đợt 2 (từ 5 đến 21/5), Nhận định đúng âm mưu của địch sẽ đánh chiếm Đoan Hùng - Tuyên Quang, Bộ giao nhiệm vụ cho Liên khu 10 phá kế hoạch càn quét của địch, tiêu diệt các vị trí chúng mới chiếm đóng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch. Bộ chỉ huy Liên khu 10 đã phân công nhiệm vụ đánh địch trên các hướng cho từng đơn vị (Tiểu đoàn: 510, 626, 696, 532, 630) và tổ chức một bộ phận của Trung đoàn sông Lô dùng Badôca đánh ca nô địch trên sông Lô. Sáng ngày 5/5, địch bắt đầu tiến công. Từ Việt Trì chúng dùng bốn ca nô và gần 100 thuyền ngược sông Lô; bị Tiểu đoàn 510 chặn đánh ở Tràng Sao, Dưỡng Mông, Xuân Trình, Xuân Thịnh, địch bị tiêu diệt 10 tên. Sáng ngày 6/5, Tiểu đoàn Ta-bo từ Hà Thạch qua Trù Mật, Yên Lãm, Phú Hộ tiến theo trục lộ 2 lên Đoan Hùng cũng bị Tiểu đoàn 532 đánh mìn, giật bom ở Cầu Hai, Chân Mộng, diệt 50 tên. Sáng 7/5, Đại đội 8 Tiểu đoàn 2 dù thuộc địa nhảy xuống Minh Cầm (300 tên). Đến ngày 8/5, từ 3 phía, quân địch tiến đánh và chiếm huyện lỵ Đoan Hùng. Sau đó, từ ngày 9 đến 11/5, chúng càn quét ra xung quanh để giữ an toàn cho Đoan Hùng, bị Tiểu đoàn 532 chặn đánh ở Tây Cốc, Ngọc Lũ. 

Bộ chỉ huy Mặt trận điều Tiểu đoàn 630 cùng Tiểu đoàn 532 tổ chức chống càn ở vùng Cát Lâm, Phù Hiên. Địch phát hiện được ý định của ta đã cho một bộ phận theo đường tắt qua Chợ Hàn, Nhũ Hán, men theo chân núi La tiến lên Km5 (Ỷ La) đường Tuyên Quang - Hà Giang. Hai cánh quân chủ lực địch tiến theo trục lộ 2 và ngược sông Lô gặp nhau ở bến Đĩa, lên Km5. Chiều 12/5, địch chiếm Tuyên Quang và Km7 đường Tuyên Quang - Hà Giang. 

Về ta, khi địch thay đổi đường tiến ta không tổ chức đánh được; chỉ dùng hai sơn pháo 75mm tập kích vào nhà thờ Tuyên Quang, bắn trúng nơi chúng hội họp. Ngày 13/5, chúng phải cho 3 máy bay lên chở xác chết và số bị thương về Hà Nội.

Sau khi thực hiện các hoạt động nghi binh, ngày 16, địch nhanh chóng chuyển quân chiếm đóng Phủ Hiên. Ngày 17, chúng chia thành ba mũi, một mũi tiến lên càn quét vùng Cây Thị, hai mũi tiến lên càn phía Thác Bà rồi trở về Làng Nghiện. Tại đây Tiểu đoàn 532 chặn đánh địch, diệt 20 tên. Sau đó một mũi tiến xuống càn Chợ Ngà, Cát Lâm, Nghĩa Quân (tại Nghĩa Quân một số tên bị trúng bom thiệt mạng), rồi phối hợp với cánh quân từ Đoan Hùng lên càn quét Tây Cốc, Nam Đản. Cùng ngày, tên tướng Kock đáp máy bay lên Tuyên Quang xem xét tình hình và động viên binh sỹ. Hắn ra lệnh thu quân. Ngày 18, địch rút dần, ngày 21, sau khi hoàn thành việc tập trung quân về Đoan Hùng, Hữu Đô, chúng tiến hành các cuộc càn nhỏ để cướp thuyền làm phương tiện rút về Việt Trì. 

Đợt 3 (từ 24 đến 31/5), Địch tập trung quân về Đoan Hùng, chủ trương rút theo hai bờ sông Lô; bên tả có 700 quân, bên hữu 800 quân, dưới sông (với bốn ca nô và hàng trăm thuyền bè) là bộ phận vận tải, pháo binh, binh lính ốm và bị thương và gần 300 người dân bị bắt. 

Về ta, mặt trận sông Chảy không còn tác dụng, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định thành lập “Mặt trận Sông Lô” nhằm tiêu diệt quân địch rút lui, bảo vệ thanh danh Sông Lô. Bộ chỉ huy Mặt trận gồm có Chỉ huy trưởng: Bằng Giang, Chỉ huy phó: Vương Thừa Vũ, Tham mưu trưởng: Lâm Kính. Chủ trương của ta: chia thành 2 bộ phận hoạt động trên 2 hướng. Hướng chủ yếu là mặt hữu ngạn do Bộ chỉ huy trực tiếp chỉ huy; lực lượng gồm 6 Tiểu đoàn bộ binh (18, 79, 510, 554, 532 và 696) và 2 đại đội công binh. Hướng phối hợp là mặt tả ngạn, do đồng chí Lâm Kính chỉ huy; lực lượng gồm 3 tiểu đoàn (23, 29 và 626). 

Ngày 24, dưới sự yểm hộ của máy bay và pháo binh, địch tiến hành rút quân dọc theo hai bên bờ sông Lô. Chúng thực hiện vừa rút vừa càn quét. Cả hai cánh bị trúng mìn ở Khổng Xuyên và Sùng Lễ chết 40 tên. Các tiểu đoàn cơ động của ta vận động chậm do mưa to, suối lũ, thông tin kém nên Tiểu đoàn 79 không tập kích được vào Bãi Cẩn, các Tiểu đoàn 510, 532, 626, 23 và 29 không thực hiện được tập kích địch ở “hợp điểm” Lệ Mỹ - Tiên Du. Sang ngày 25, đội hình rút lui của địch ở bên hữu ngạn bị 2 Tiểu đoàn 79 và 18 chặn đánh, diệt gần 100 tên, đánh đắm gần hết số thuyền, giải thoát 275 người dân bị địch bắt. Phía tả ngạn, đội hình của địch bị Tiểu đoàn 23 chặn đánh liên tiếp ở Quang Thất, Lộ Viện, Yên Thuyết làm chết 34 tên, bị thương 10 tên. Đêm 25, Bộ chỉ huy Mặt trận ra chủ trương bao vây diệt cánh địch ở phía hữu ngạn trước, sau đó phối hợp với bên tả ngạn tiêu diệt hoàn toàn quân địch; tổ chức giao nhiệm vụ đánh địch cho các đơn vị trên các hướng. Phương châm: đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn quân địch. 

Ngày 26, địch rút lui dè dặt hơn. Mặt hữu ngạn, Tiểu đoàn 18 bị lạc đường, Tiểu đoàn 79 tự động bắn máy bay, lộ đội hình nên bị địch oanh tạc, cả 2 tiểu đoàn không thực hiện được nhiệm vụ đánh địch. Tiểu đoàn 510 và 532 chặn đánh địch từ 14 giờ tới tối, diệt 130 tên, bắn rơi một máy bay Ca-ta-li-na. Địch phải co lại củng cố ở hai thôn Nội, Ngoại và xóm Quỳnh. Bên tả ngạn, địch cho quân lên chiếm núi Hét để chiếm lĩnh địa hình bảo vệ đội hình hành quân, nhưng Tiểu đoàn 29 đã chiếm trước. Cả 2 lần địch tiến công đều bị Tiểu đoàn 29 đánh bật xuống. Nhưng khi bị địch nã pháo mạnh vào đội hình, Tiểu đoàn 29 phải rút, địch chiếm được núi Hét. Ta diệt 100 tên, làm bị thương 30 tên, thu 5 súng trường. Ta hy sinh 4 đồng chí, bị thương 5 đồng chí. Ngày 27, địch củng cố đội hình để tiếp tục rút (dự kiến ba ngày, đã mất bốn ngày mà mới chỉ rút được nửa đường). Ta không khắc phục được hạn chế về thông tin liên lạc, chủ trương của Bộ chỉ huy đến các đơn vị quá chậm, nên địch đã lợi dụng thời cơ chọc thủng được tuyến ngăn chặn của ta ở Tiên Du; 18 giờ ngày 28/5, chúng rút về được tới Nha Môn, bộ phận tiếp viện từ Việt Trì cũng lên được tới Xốm. Bộ chỉ huy Mặt trận tổ chức một đội xung phong gồm bốn đại đội chọn lọc, Tiểu đoàn 510 và Đại đội 74 làm nhiệm vụ yểm hộ trực tiếp cho đội xung phong đánh một trận tiêu diệt để kết thúc chiến dịch. Thực hiện quyết tâm trên, bộ đội truy kích địch suốt đêm. 3 giờ ngày 29/5, 2 đại đội tới được Trinh Nữ. Địch ở Nha Môn bỏ chạy tán loạn. Bên tả ngạn, quân ta phục kích ở Phan Dư, diệt 50 tên, sau đó ta rút quân. Quân tiếp viện địch gặp quân rút lui ở Quán Tử, chúng cùng rút về Việt Trì. Ngày 31/5, ta tổ chức lực lượng để tiêu diệt địch ở Lưu Lâu và quấy rối ở Việt Trì. Nhưng do nắm địch không chắc nên khi đánh vào Lưu Lâu, quân địch đã rút khỏi từ trước. Bộ chỉ huy ra lệnh lui quân, kết thúc chiến dịch. 

Kết quả địch chết và bị thương 983 tên, phần lớn là lính Pháp và lính Âu - Phi, một hạ sĩ quan ra hàng; đánh đắm 1 sà lan, gần 100 thuyền bè và một số vũ khí, trang bị; bị bắn rơi 1 máy bay, bị thương 2 chiếc khác. Ta thu: 3 tiểu liên, 5 súng trường, 2 dù đạn cối và 200 dù tiếp tế quân lương. Hy sinh 35 đồng chí, bị thương 52 đồng chí, mất 9 súng trường, một số lựu đạn, thóc lúa và nguyên vật liệu của cơ xưởng, hỏng 2 khẩu súng./. 

Nguồn: Minh Nguyệt
04-03-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s