Khởi nghĩa Nam Kỳ - tiếng súng báo hiệu cho khởi nghĩa toàn quốc


11-12-2017
Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn và binh biến Đô Lương, khởi nghĩa Nam Kỳ là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”[1].


Đó cũng là những minh chứng thuyết phục cho sự nhạy bén, sáng tạo và đúng đắn trong bước đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng và là cơ sở quan trọng để Trung ương Đảng hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước.

Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, tình hình trong nước và trên thế giới có nhiều chuyển biến đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải có những hướng đi mới nhằm vừa khắc phục những khó khăn vừa khai thác được những thuận lợi do tình thế mới đem lại.

Nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, Trung ương Đảng đã kịp thời từng bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là phản đế; đồng thời, giải quyết một phần nhiệm vụ phản phong, chuyển hình thái đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Được trang bị tư tưởng chiến lược mới, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Nam Kỳ nói riêng có sự chuyển biến rõ rệt, ngày càng tích cực, sôi nổi trên tất cả các mặt trận: tuyên truyền, vận động tổ chức Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương; nêu cao khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp thống trị, phát xít Nhật xâm lược; chuẩn bị những điều kiện sẵn sàng thực hiện bạo động cách mạng giải phóng dân tộc.

Tháng 3/1940, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Võ Văn Tần, Thường vụ Xứ ủy đã soạn thảo Đề cương chuẩn bị báo động. Từ ngày 21 đến ngày 27/7/1940, tại xã Tân Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, Khoáng đại hội nghị toàn xứ đã được tổ chức, “chủ trương khởi nghĩa vũ trang được quyết định dứt khoát”.[2]

Tháng 9/1940, tại Hội nghị đại biểu toàn Xứ tại xã Xuân Thới Đông, huyện Hoóc Môn, tỉnh Gia Định, Xứ ủy đã quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền địch, giành lấy chính quyền cách mạng về tay nhân dân. Các tỉnh và thành phố ở Nam Kỳ đều khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị trong đó có việc thành lập ban khởi nghĩa để lãnh đạo nhân dân đồng loạt nổi dậy.


Khởi nghĩa Nam Kỳ - Ảnh Tư liệu.

Đến giữa tháng 11/1940, trước tình hình phong trào cách mạng sôi sục, tinh thần phản chiến của binh lính người Việt trong quân đội Pháp lên cao, Xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 21/11/1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ đảng nhất loạt phát động nhân dân nổi dậy vào lúc 0 giờ ngày 23/11/1940.

Tuy nhiên, trước đó từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940, Hội nghị lần thứ Bảy của Ban Chấp hành Trung ương họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh và sự tham gia của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Phan Đăng Lưu... Về đề nghị khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ, Hội nghị quyết định hoãn việc khởi nghĩa ở Nam Kỳ vì chưa có đủ điều kiện khách quan và chủ quan đảm bảo cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Hội nghị giao đồng chí Phan Đăng Lưu về truyền đạt chủ trương này cho Xứ ủy Nam Kỳ. Vừa về đến Sài Gòn, trưa ngày 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu bị địch bắt, chưa kịp truyền đạt quyết định của Trung ương.

Theo đúng mệnh lệnh của Xứ ủy, 0 giờ ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa đã đồng loạt nổ ra tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong toàn Xứ: Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sa Đéc, Biên Hòa, Tây Ninh, đặc biệt diễn ra rất quyết liệt ở Bà Điểm – Hoóc Môn (Gia Định), Cai Lậy – Châu Thành (Mỹ Tho), Vũng Liêm – cái Ngang – Tam Bình (Vĩnh Long).

Với khẩu hiệu “Đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc”[3], cuộc khởi nghĩa được đông đảo nhân dân, đặc biệt là nông dân hưởng ứng mạnh mẽ. Các đội du kích và quần chúng nhân dân nhanh chóng đánh chiếm quận lỵ, đồn bốt. Ở các tổng, làng, họ nổi dậy làm chủ các trụ sở trấn áp tề tổng. Đường dây điện tín của địch trên nhiều tuyến bị cắt đứt hoặc phá hủy hoàn toàn. Ở một số nơi, nhân dân lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu thóc gạo của địch chia cho dân nghèo.

Trong bão táp cách mạng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu được giương cao trong các cuộc biểu tình, tiến công đồn bốt địch. Lá cờ đỏ sao vàng đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân, của tinh thần và ý chí đấu tranh cách mạng của nhân dân Nam Kỳ. Lá cờ đỏ sao vàng sau đó đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm biểu tượng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh. Đến ngày 09/11/1946, tại kỳ họp Quốc hội thứ hai (khóa I), lá cờ đỏ sao vàng chính thức được công nhận là “Quốc kỳ” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tuy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ đã giành được những thành quả nhất định, bước đầu phá được chính quyền của địch, xây dựng và bảo vệ được chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương trong một thời gian nhất định. Trong quá trình tiến hành khởi nghĩa, bước đầu đã có sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh quân sự, nhất là trong hình thức địch vận dụ hàng, phá hoại, cản trở giao thông liên lạc.

Ngày 14/01/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 163 - SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940.

Khởi nghĩa Nam Kỳ là minh chứng cho sự nhạy bén, sáng tạo và đúng đắn trong bước đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng và là cơ sở quan trọng để Trung ương Đảng hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 109.

[2] Trần Nhu (Chủ biên): Các cuộc khởi nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1930 – 1945), Nxb Trẻ, tp. Hồ Chí Minh, 2015, tr.220.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.539.


Nguồn: Thanh Tâm
11-12-2017
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s