Khởi nghĩa Bắc Sơn và sự ra đời Đội du kích Bắc Sơn


21-09-2016
Năm 1940, nhận thấy sự tan rã của chính quyền thực dân Pháp sau khi Nhật đánh chiếm Đông Dương, Đảng bộ Bắc Sơn đã phát động quần chúng nổi dậy tấn công các đồn bốt, cướp chính quyền. Cuộc khởi nghĩa đã mở đầu cho thời kỳ mới, thời kỳ kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ. Sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức ngày 22/6/1940, phát xít Nhật nhanh chóng chiếm Đông Dương, ép chính quyền Pháp ở Đông Dương phải nhượng bộ nhiều quyền lợi. Ngày 22/9/1940, phát xít Nhật vượt biên giới Trung-Việt đánh vào Lạng Sơn, đồng thời cho hơn 4000 quân đổ bộ vào Đồ Sơn (Hải Phòng) theo đường biển. Tàn binh quân Pháp rút chạy theo đường bộ qua Điềm He, Bình Gia, Bắc Sơn về Thái Nguyên. Đi tới đâu chúng cũng ra sức cướp bóc, bắn giết nhân dân ta tới đó, làm cho nhân dân căm thù đến cực điểm, quyết tâm nổi dậy giết giặc, giành chính quyền về tay mình.

Ngày 25/9/1940, một số đồng chí đảng viên vừa thoát khỏi nhà tù Lạng Sơn về tới địa phương. Trong đó có các đồng chí Nông Văn Cún, Hoàng Đình Ruệ, Đường Văn Thức. Ngay trong đêm 26 tháng 9 năm 1940, các đồng chí đó đã họp bàn với một số đảng viên chi bộ xã Hưng Vũ. Tại cuộc họp, các đồng chí Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán tại thôn Nông Lục, xã Hưng Vũ, nhận định thời cơ phát động quần chúng cách mạng nổi dậy khởi nghĩa vũ trang đã đến. Sáng ngày 27/9/1940, cuộc họp do chi bộ triệu tập đã thống nhất các chủ trương khởi nghĩa và phát động quần chúng nhân dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang. Đồng thời trong thời gian đó, nhân dân tự tổ chức việc thu nhặt vũ khí, tước khí giới của các toán quân lẻ để tự vũ trang. Chi bộ xác định lực lượng cách mạng là đông đảo quần chúng nhân dân. Ban chỉ huy khởi nghĩa nhanh chóng được thành lập gồm các đồng chí Hoàng Văn Hán, Dương Công Bình, Hoàng Đình Ruệ, Đường Văn Thức, Nông Văn Cún do đồng chí Hoàng Văn Hán làm chỉ huy trưởng, chọn địa điểm tấn công đầu tiên là đồn Mỏ Nhài, châu lỵ Bắc Sơn.

Ngày 27/9/1940, lực lượng tự vệ tổ chức phục kích toán quân Pháp đang rút chạy về Thái Nguyên ở đèo Canh Tiêm, tiêu diệt 1 tên địch, thu một số trang bị và súng của địch. 20 giờ 30 phút, ngày 27/9/1940, 600 quân khởi nghĩa thuộc dân tộc Tày, Nùng, Dao, Hoa và Kinh dưới sự chỉ đạo của chi bộ Cộng sản xã Hưng Vũ tiến đánh đồn Mỏ Nhài. Đoàn quân khởi nghĩa vừa nổ súng, vừa kêu gọi binh lính trong đồn về theo cách mạng. Người dân các làng xung quanh đồn Mỏ Nhài tập hợp lực lượng cùng nhau khua chiêng, gõ mõ... hậu thuẫn cho lực lượng khởi nghĩa trên các hướng tấn công, góp phần hạ đồn Mỏ Nhài, chiếm châu lỵ Bắc Sơn. Sau cuộc tấn công chớp nhoáng, lực lượng khởi nghĩa đã chiếm đồn Mỏ Nhài, binh lính quân đội Pháp hoảng sợ bỏ chạy, chính quyền cai trị bị tan rã. Sau khi chiếm châu lỵ, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai do đế quốc dựng lên, hạ lệnh đốt sổ sách của địch.

Ngày 28 và 29/9/1940, quân khởi nghĩa tiếp tục tấn công vào tàn quân Pháp ở đèo Canh Tiêm, Sập Dì. Trước tình thế đó, Pháp, Nhật thỏa hiệp với nhau để tập trung đàn áp cuộc khởi nghĩa. Thực dân Pháp đưa quân lên chiếm lại các đồn và đàn áp nhân dân dữ dội. Ngay sau khi được tin cuộc khởi nghĩa bùng nổ, Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp lên lãnh đạo phong trào và hướng cuộc khởi nghĩa vào mục tiêu xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài.

Ngày 13/10/1940, cuộc họp tại khu rừng Tân Hương đã quyết định thành lập đơn vị du kích Bắc Sơn đầu tiên. Ngày 28/10/1940, quần chúng cách mạng đang tổ chức mít tinh ở Vũ Lăng, chuẩn bị đánh chiếm lại đồn Mỏ Nhài thì bị quân Pháp tấn công. Nghĩa quân rút chạy vào vùng Bắc Sơn (Lạng Sơn) và Võ Nhai (Thái Nguyên).

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chỉ tồn tại chưa đầy một tháng, nhưng đã đem lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho việc chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Hội nghị Trung ương 7 của Đảng quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn  làm vốn quân sự cho các cuộc khởi nghĩa sau này, cũng như xây dựng trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai làm chỗ dựa cho đấu tranh vũ trang.

Tháng 12/1940, Trung ương Đảng cử đồng chí Lương Văn Tri, Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ lên tăng cường cho căn cứ. Ban lãnh đạo Đội du kích và khu căn cứ du kích được thành lập. Đồng chí Phùng Chí Kiên làm Chỉ huy trưởng, phụ trách căn cứ địa; đồng chí Chu Văn Tấn làm Chỉ huy phó; đồng chí Lương Văn Tri làm Chính trị viên, dưới sự chỉ đạo chung của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. 

Để củng cố và phát triển Đội du kích Bắc Sơn, tháng 1/1941, lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày tại Phú Thượng, Lâu Thượng, Tràng Xá (Võ Nhai, Thái Nguyên), lớp học được tổ chức nhằm nâng cao trình độ chính trị, quân sự và ý thức tổ chức, kỷ luật. Mục đích là đào tạo cán bộ cho khu căn cứ và cung cấp cán bộ cho các cơ sở khác. Ngày 14/2/1941, Đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập ở khu căn cứ Khuổi Nọi, thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn).

Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng công nhận, giao nhiệm vụ và trao lá Cờ đỏ sao vàng cùng dòng chữ "Tặng Du kích Bắc Sơn" do Hội Phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng. Đội có 32 cán bộ, chiến sĩ là con em đồng bào các dân tộc trên địa bàn đã được giác ngộ cách mạng, chia làm ba tiểu đội, do đồng chí Lương Văn Tri và Chu Văn Tấn chỉ huy. Vũ khí có 5 súng trường, súng kíp và dao găm. Tinh thần cứu nước và ý thức kỷ luật của Đội được biểu hiện ở 5 lời thề danh dự:

1. Không phản Đảng.

2. Tuyệt đối trung thành với Đảng.

3. Kiên quyết chiến đấu và trả thù cho các đồng chí bị hy sinh.

4. Không hàng giặc.

5. Không hại dân.

Khởi nghĩa Bắc Sơn là một mốc son chói lọi của tinh thần yêu nước, quyết tâm chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta, thể hiện sự sáng tạo và tài thao lược trong chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng của Đảng. Cuộc khởi nghĩa dù diễn ra trong thời gian ngắn nhưng mang ý nghĩa lịch sử to lớn, góp phần xây dựng chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội du kích Bắc Sơn đã không ngừng lớn mạnh, góp phần quan trọng trong việc xây dựng khu giải phóng trước Tổng khởi nghĩa năm 1945. Sau này, Đội du kích Bắc Sơn đổi thành Cứu Quốc quân Bắc Sơn, tiền thân của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

 

Nguồn: Trường Giang
21-09-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s