Từ Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam đến Công đoàn Quốc phòng ngày nay


06-03-2019
Ngày 06/3/1949, Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam (tiền thân của Công đoàn Quốc phòng ngày nay) ra đời. Trải qua 70 năm hoạt động, tổ chức Công đoàn Quốc phòng đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc động viên đội ngũ công nhân viên chức (CNVC), lao động quốc phòng (LĐQP) nêu cao bản chất, truyền thống giai cấp công nhân Việt Nam và “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, đạt hiệu quả cao; làm ra nhiều sản phẩm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ngày nay.

Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam

Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trước âm mưu của chủ nghĩa đế quốc muốn bóp chết chính quyền cách mạng nhân dân ngay từ trong trứng nước, nhiệm vụ bảo vệ chính quyền non trẻ là hết sức quan trọng, cần phải bảo đảm vũ khí, khí tài cho quân dân đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Đảng ta chủ trương đẩy mạnh sự phát triển của các lực lượng vũ trang nhân dân trong cả nước. Việc sản xuất vũ khí, trang bị trở thành yêu cầu cấp bách cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 15/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới trực thuộc Bộ Quốc phòng nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu cuộc chiến đấu trước mắt và lâu dài, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần sâu sắc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; Đảng bộ và chính quyền các địa phương Bắc - Trung - Nam ra sức xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí, đội ngũ công nhân viên chức – lao động quốc phòng đã không quản gian lao nguy hiểm, bằng đôi chân đất, vai trần đã vận chuyển hàng trăm ngàn tấn máy móc thiết bị, nguyên vật liệu di dời từ các thành phố, thị trấn vào chiến khu, lập các công binh xưởng sản xuất súng kíp, lựu đạn... sau đó tiến lên sản xuất được các loại súng cối 60mm, rồi 120mm và chế tạo được các loại súng, đạn Bazôka, DKZ, SKZ, mìn hẹn giờ, mìn lõm, thuỷ lôi... cung cấp ngày càng nhiều cho bộ đội đánh thắng giặc. Ngoài việc sản xuất công tác ở công xưởng, hàng trăm đoàn, đội công tác cơ động để sửa chữa vũ khí, xe máy theo các mặt trận, có mặt trên các chiến trường trong nước và cả trên đất bạn. Nhiều đồng chí cán bộ, công nhân viên chức quốc phòng đã hy sinh trong phục vụ chiến đấu, trong nghiên cứu chế thử vũ khí và chiến đấu bảo vệ nhà máy, công xưởng.


Cán bộ cơ quan Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam tại Việt Bắc, năm 1950. Ảnh tư liệu.

Đến cuối năm 1947, cả nước đã có gần 200 cơ sở sản xuất vũ khí, với trên 20.000 CNVCQP và hàng trăm cơ sở thuộc ngành quân dược, quân y, vận tải, thông tin. Đến đây, nền công nghiệp quốc phòng của nước Việt Nam trong kháng chiến đã thực sự ra đời. Cùng với việc thành lập các binh công xưởng, tổ chức công đoàn các cấp cũng lần lượt ra đời với nhiều tên gọi: Công nhân cứu quốc, công đoàn kỹ thuật quốc phòng, công đoàn binh công xưởng, công đoàn Quân giới.

Hội nghị cán bộ Tổng Liên đoàn mở rộng ngày 10/11/1948 đã quyết định: “Ở vùng tự do, nhanh chóng chấn chỉnh lại những công đoàn ở các địa phương và thống nhất những ngành nghề dọc đến toàn quốc. Đồng thời đào tạo cán bộ để kiện toàn các cấp bộ công đoàn như các tiểu ban phụ thuộc”.

Nhờ được tăng cường chỉ đạo và có kế hoạch khẩn trương xây dựng, chấn chỉnh, củng cố, từ năm 1949 hệ thống công đoàn ở vùng tự do được phát triển toàn diện mạnh mẽ. Trong quân đội, tháng 3/1949 Công đoàn ngành chế tạo vũ khí đã thống nhất đến toàn quốc, lấy tên là: “Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam” với 137 công đoàn cơ sở trực thuộc trong toàn quốc (từ Liên khu Việt Bắc, Khu 3, Khu 4, Khu 5 đến Nam Bộ) với tổng số 37.500 đoàn viên. Hầu hết công nhân ngành sản xuất vũ khí Việt Nam, một ngành sản xuất đặc biệt quan trọng trong kháng chiến, đều gia nhập công đoàn. “Đây là một công đoàn ngành dọc vững mạnh và hoạt động sôi nổi nhất của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp”[1].


Xưởng sản xuất vũ khí của quân giới Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, năm 1949. Ảnh tư liệu.

Công đoàn sản xuất Vũ khí Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, phối hợp chặt chẽ với Cục Quân giới, Liên Hiệp công đoàn các khu, tỉnh trong việc hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở hoạt động.

Đầu năm 1951, đứng trước yêu cầu mới của cách mạng và của cuộc kháng chiến, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp đã xác định rõ vai trò, vị trí của giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam: “Công nhân Việt Nam tuổi còn trẻ, nhưng ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam. Số lượng còn ít (4% trong dân số)... Từ Cách mạng tháng Tám, nhất là từ khi kháng chiến toàn quốc, công nhân Việt Nam giác ngộ chính trị mau chóng và phát huy được khả năng của mình. Trong giai cấp công nhân, công nhân công nghiệp giác ngộ nhất và giàu năng lực tổ chức nhất”[2].

Đại hội chủ trương đẩy mạnh công tác vận động công nhân theo hướng:

Lãnh đạo và tổ chức công nhân nỗ lực thi đua sản xuất để chuyển mạnh sang tổng phản công và chuẩn bị kiến thiết nền móng dân chủ nhân dân.

Lãnh đạo và tổ chức công nhân chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu giải phóng các thành phố, các xí nghiệp, khu kỹ nghệ do giặc chiếm đóng khi tổng phản công.

Đề cao việc giáo dục giai cấp công nhân và chấn chỉnh tổ chức, làm cho các cơ sở xí nghiệp vững mạnh. Chi bộ và công đoàn cơ sở đủ sức lãnh đạo mọi mặt công tác trong xí nghiệp, đặc biệt là lãnh đạo sản xuất.


Các binh công xưởng sôi nổi thi đua sản xuất theo gương Anh hùng lao động Ngô Gia Khảm, năm 1952. Ảnh tư liệu.

Trong ba nhiệm vụ ấy, nhiệm vụ lãnh đạo công nhân chiến đấu và sản xuất là chính. Hai nhiệm vụ đó đi song song với nhau cho đến khi kháng chiến thành công, nhiệm vụ sản xuất sẽ ngày càng được đề cao hơn lên, mọi công tác giáo dục, tổ chức cải thiện đời sống, đào tạo cán bộ đều nhằm vào đó mà phát triển.

Sau Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất cuối năm 1951, hệ thống các tổ chức công đoàn đã có bước chấn chỉnh, một số công đoàn ngành được thành lập như Công đoàn Quân dược, Công đoàn Quân nhu... Việc thành lập các công đoàn ngành thể hiện rõ sự phát triển rộng rãi của tổ chức công đoàn từ sau Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ nhất; số lượng đoàn viên công đoàn được bổ sung thêm nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật và đội ngũ trí thức đông đảo tham gia. Cuối năm 1951 - đầu năm 1952, tổng số đoàn viên công đoàn cả nước là 219.826 người, số đoàn viên trong ngành Quân giới chiếm khoảng 13% (29.000 đoàn viên). Hoạt động của công đoàn ngành Quân giới ngày càng trở nên phong phú, toàn diện, có những đóng góp xứng đáng cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Trong giai đoạn này, quân đội được trang bị nhiều loại vũ khí mới, nên yêu cầu sản xuất bộ phận thay thế súng pháo ngày càng lớn, không những số lượng tăng lên mà chủng loại cũng nhiều hơn. Các xưởng phải cử cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm đến các kho quân khí để lấy mẫu về, có trường hợp phải xuống tận đơn vị để lấy mẫu. Được thắng lợi của nhiều chiến trường cổ vũ, cán bộ, công nhân kiên quyết vượt mọi khó khăn, kiên trì, bền bỉ, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1952, các xưởng sản xuất được 260 bộ phận súng pháo với hàng ngàn sản phẩm; đến đầu năm 1954 đã sản xuất được 400 bộ phận với số lượng trên 50.000 sản phẩm. Tiêu biểu là các xưởng Zl, Z6, X21, X22, X23..., cán bộ, công nhân phát huy nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, giảm thời gian chế tạo như chế tạo kim hỏa súng cối từ 180 phút xuống còn 120 phút; sản xuất díp súng ngắn, díp M trong hộp tiếp đạn súng trường, đều hạ mức thời gian.


Xưởng sửa chữa pháo 105mm tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp, năm 1952. Ảnh tư liệu.

Trong khi phải dồn sức cho các kế hoạch chế tạo vũ khí cơ bản, sản xuất quân cụ, bộ phận súng pháo, sửa chữa pháo và lựu đạn, mìn xuống cấp thì cán bộ, công nhân các xưởng phía Bắc và một phần Liên khu 5 đồng thời triển khai nhiệm vụ chuyển hướng tổ chức, thực hiện chỉnh biên, giảm biên chế, chuyển một bộ phận ra đơn vị chiến đấu và các ngành kinh tế khác. Công đoàn Sản xuất vũ khí các cấp coi đây là nhiệm vụ chính trị đột xuất, đặc biệt phải vận động, tuyên truyền, thuyết phục cán bộ, công nhân, đoàn viên chấp hành cho thật tốt.

Tháng 7/1952, Tổng Quân ủy quyết định thành lập Đảng ủy Tổng cục Cung cấp, đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân được chỉ định vào Ban chấp hành Đảng bộ, phụ trách công tác quân giới. Từ đây Cục Quân giới và Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam có điều kiện để nắm tình hình, chủ trương chung của Tổng cục Cung cấp vận dụng vào công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện của ngành mình.

Như vậy, Công đoàn Sản xuất vũ khí Việt Nam vừa chấp hành sự chỉ đạo của Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, vừa thực hiện các chủ trương của Tổng Quân ủy, nghiên cứu vận dụng cho phù hợp với đối tượng đặc điểm hoạt động sản xuất vũ khí trong Quân đội nhân dân Việt Nam.


Công nhân quân nhu may quần áo phục vụ cho chiến trường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1953. Ảnh tư liệu.

Thành công của ngành Quân giới Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có sự thương yêu đùm bọc, giúp đỡ to lớn của toàn dân. Nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã đóng góp nhiều công sức, của cải và cả tính mạng mình cho công cuộc sản xuất vũ khí. Nhờ có sự tận tình giúp đỡ của nhân dân mà quân giới mới có thể thực hiên thắng lợi các kế hoạch đã đề ra, vận chuyển hàng vạn tấn máy móc, vật liệu từ thành thị về nông thôn, lên rừng núi. Khi đặt xưởng ở đâu, cán bộ, công nhân quân giới ở đó lại được nhân dân hết lòng giúp đỡ xây dựng nhà xưởng, nơi ăn ở, chăm lo nuôi dưỡng cán bộ, công nhân khi gặp khó khăn, thiếu đói, đau yếu, cùng tự vệ công nhân kiên quyết chiến đấu bảo vệ xưởng, bảo vệ sản xuất.

Chính nhờ có sự chăm sóc của nhân dân về nhiều mặt mà ngành Quân giới Việt Nam đã có sức sống mãnh liệt, chiến tranh càng ác liệt, xưởng sản xuất vũ khí lại càng được xây dựng và phát triển nhiều hơn, khối lượng sản xuất vũ khí đưa ra chiến trường càng nhiều hơn.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Trong chiến công chung của dân tộc có sự đóng góp xứng đáng của ngành chế tạo vũ khí một ngành công nghiệp non trẻ, mới mẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trưởng thành từ không đến có từ nhỏ đến lớn. Cùng với sự ra đời của Quân giới Việt Nam giai cấp công nhân, Công đoàn Sản xuất vũ khí lần lượt ra đời từ Bắc chí Nam, đảm nhận sứ mệnh vận động cán bộ công nhân, đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho trong cuộc kháng chiến. Thời gian từ lúc ra đời tuy còn ngắn nhưng là giai đoạn lịch sử hết sức vẻ vang, hào hùng và không ít khó khăn nguy hiểm mà tổ chức công đoàn ngành sản xuất vũ khí phải gồng mình vượt qua thử thách khắc nghiệt đó để trưởng thành và phát triển.

Công đoàn Quốc phòng ngày nay

Hai miền Bắc - Nam thống nhất, non sông về một mối, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới. Quân đội nhân dân trong đó có tổ chức công đoàn và lực lượng CNVCQP cũng có những yêu cầu nhiệm vụ mới.


Đại hội Đảng bộ cơ quan Ban Công đoàn Quốc phòng lần 1, năm 1979. Ảnh tư liệu.

Thực hiện Nghị quyết số 423 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 23 tháng 2 năm 1979, Tổng cục Chính trị ra Hướng dẫn số 400/HD-CT về “Tổ chức công đoàn cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, đã nêu rõ:

Công đoàn cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức ở cơ sở: những cơ sở chuyên làm nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa của quốc phòng như các xí nghiệp, đơn vị xây dựng cơ bản, nông trường, lâm trường... là một đơn vị cơ sở có tổ chức đảng, tổ chức chính quyền, có nhiều công nhân viên làm việc trong biên chế chính thức, có 10 đoàn viên trở lên, được cấp ủy đảng và thủ trưởng đơn vị đề nghị, được Đảng ủy và thủ trưởng các Tổng cục, quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng hoặc đơn vị tương đương chuẩn y, thì thành lập công đoàn cơ sở. Đối với các cơ quan, đơn vị, nhà trường, bệnh viện... nếu có số lượng công nhân viên đông, thấy việc lập công đoàn cơ sở ở đó thật cần thiết thì cũng có thể thành lập công đoàn cơ sở.

Cùng với sự đổi mới của đất nước, cán bộ, đoàn viên, CNVC, LĐQP đã đẩy mạnh các phong trào, ra sức thi đua, khắc phục mọi khó khăn trở ngại phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; xây dựng, củng cố đội ngũ công nhân viên chức, lao động quốc phòng vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tổng kết hàng năm có trên 80% đoàn viên công đoàn đạt xuất sắc, 100% công đoàn cơ sở đạt vững mạnh trong đó có 45% đạt vững mạnh xuất sắc. Có hàng trăm cán bộ công đoàn có trình độ đại học, cao đẳng; gửi đi đào tạo trường đại học công đoàn hàng nghìn cán bộ; toàn quân có gần 100 cán bộ công đoàn chuyên trách. Tổ chức công đoàn trong quân đội thực sự là chỗ dựa vững chắc của tổ chức Đảng, chỉ huy ở cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ trong sạch, đơn vị vững mạnh toàn diện./.


[1] Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập 1.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II.


Nguồn: Văn Tùng
06-03-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s