Ký ức về chuyến sưu tầm hiện vật trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc


18-06-2019
Đất nước đã sạch bóng quân thù, vết thương chiến tranh đã được hàn gắn, cuộc sống của nhân dân cũng dần ổn định. Nhưng năm 1979, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, chúng tôi là những cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo tàng trong quân đội lại tiếp tục hành trình sưu tầm kỷ vật, lưu dấu ấn chiến tranh.

Những người làm công tác sưu tầm kỷ vật, bắt đầu từ nơi chiến trường vừa ngưng tiếng súng, đến những chiến địa đã qua bão đạn, bỏ lại ngổn ngang xác thù, súng đạn…

Người lính làm công tác bảo tàng, xuất phát từ tình yêu Tổ quốc, đam mê nghề nghiệp, bất chấp mọi hy sinh gian khổ. Hàng ngày, hàng giờ, miệt mài bằng công sức, trí tuệ, thậm chí cả xương máu của mình. Ngày đêm trong rừng sâu, núi thẳm, nơi chiến trường vừa đi qua, trong các khu rừng hẻo lánh, họ tìm kiếm, sưu tầm hiện vật chiến tranh. Các kỷ vật được trưng bày, góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt và bạn bè quốc tế, hiểu về lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Hành trình của tôi bắt đầu từ tháng 2/1979, sau khi chiến tranh biên giới xảy ra trên toàn tuyến phía Bắc, tôi cùng đồng đội trở lại nơi chiến sự vừa đi qua để sưu tầm kỷ vật.

Hành trang của người lính bảo tàng cũng gọn nhẹ như lính đi chiến đấu ở chiến trường, vật dụng trong chiếc ba lô con cóc là võng, bạt, máy ảnh, súng đạn… Hành quân, lăn lộn đến những khu rừng sâu thẳm, bạt ngàn trên biên giới. Lương thực của người lính đi tìm kỷ vật chiến tranh là lương khô, cơm nắm, rau rừng, tiện đâu ăn đó, mệt đâu nghỉ đó. Đêm xuống nằm trong những hang đá sâu hun hút, vắng lặng, hoang vu, chỉ thấy tiếng gió hú rùng rợn, chăn màn không đủ ấm, buốt lạnh thấu xương, ít ai ngủ được, nhiều chiến sĩ thức trắng đến sáng. Những chỗ không có hang thì ngủ ở dưới gốc cây mộc miên già, luôn có rắn độc, thú rừng rình rập. Trong khi đó chiến sự vẫn diễn ra gay gắt, bom đạn gầm rú, khói đen ngút trời. Đoàn của tôi gồm 3 người, Thượng tá Thụy là Đoàn trưởng, nhà báo Kim Đoàn và tôi.

Một lần trên đường vào Sở chỉ huy Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng), lúc quân thù vừa rút lui, mùi khói thuốc bom đạn vẫn còn khét lẹt. Ngay cầu Khánh Khê, một vài xác địch nằm đó, tôi nhanh chóng chụp ảnh, tháo phù hiệu trên ve áo làm kỷ vật. Quá trình tìm kiếm chúng tôi thu được nhiều hiện vật, minh chứng cho sự thất bại của kẻ địch gây ra cho cuộc chiến tranh này.

Khi nghiên cứu thực địa hiện trường, đoàn thấy rất rõ các dấu vết còn hằn trên mặt đất của những xác xe tăng bị quân ta tiêu diệt, đã được kéo về phía bên kia biên giới. Có lẽ sau khi thất bại, địch bí mật tìm cách xóa sạch vết tích của cuộc chiến, càn quét, sát hại đồng bào ta tại nơi này. Chỉ một số xe tăng ở địa thế không thể kéo được chúng mới bỏ lại.

Trước tình hình đó, Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) báo cáo với Bộ Quốc phòng, xin thêm lực lượng khảo sát và phương tiện để thu hồi xác xe tăng địch. Được sự đồng ý của cấp trên, tôi và đồng chí Lê Phương thuộc Bảo tàng, một đồng chí ở Cục Tăng – Thiết giáp thuộc Tổng cục Kỹ thuật, một cán bộ pháo binh của Bộ Tư lệnh Pháo binh, tìm đến Ban chỉ huy quân sự tỉnh và huyện địa phương nhờ giúp đỡ.

Đúng như những gì chúng tôi dự kiến, Cao Bằng chỉ còn hai khu vực thuộc Thạch An và Hòa An, có địa hình hiểm trở, núi cao, vực sâu, rừng già… địch không có phương tiện thu hồi, nên xác xe tăng nằm rải rác dưới vực, có chỗ xe rơi xuống độ sâu 200m. Đoàn tìm cách tiếp cận để khảo sát thực địa, nhiều mảnh đã bị người dân tháo dỡ, làm dụng cụ lao động, nhất là chốt xích xe tăng.

Nhân dân Cao Bằng sống ở khu vực rừng núi hầu hết là người dân tộc Tày, Nùng, Dao nên nhận thức về văn hóa lịch sử bị hạn chế, tiếng dân tộc thì chúng tôi không thông thạo, công tác tuyên truyền gặp nhiều khó khăn. Nhưng khi nhờ chính quyền địa phương, tập hợp lực lượng dân quân, tuyên truyền giải thích tác dụng, giá trị văn hóa, chính trị của hiện vật lịch sử chiến tranh, có ý nghĩa quan trọng của công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước thì nhân dân hết lòng giúp đỡ.

Sau nửa tháng khảo sát đã thu được nhiều hiện vật có giá trị, Bộ Quốc phòng chỉ đạo Đại đội xe 120 ở Thường Tín, lên đường phối hợp cùng chúng tôi thu xác xe tăng địch về Hà Nội. Lực lượng đi tìm kỷ vật chiến tranh lúc này có thể nói rất hùng hậu, gồm các cán bộ Bảo tàng chỉ đạo kỹ thuật, Đại đội xe 120 phối hợp thu dỡ xác xe tăng, dân quân du kích địa phương và nhân dân dẫn đường, chỉ địa điểm nơi xe tăng địch nằm, tìm đường để bộ đội tiếp cận, khảo sát thực địa...

Quá trình tìm kiếm, những nơi có nhiều chiến tích quan trọng như bản Xẩy, Thị trấn Nước Hai, tỉnh Cao Bằng, đoàn để những mảnh xác xe tăng địch, làm di tích lịch sử, ghi lại sự kiện của vùng đất này chiến tranh biên giới đã xảy ra.

Cuộc hành trình vẫn tiếp tục, chúng tôi lại hành quân lên đèo Cáng Lò, Đông Khê, những xác xe tăng nằm dưới vực sâu, anh em phải nối cáp, dùng tời kéo lên từng mảnh. Suốt hai tháng ròng rã, được lực lượng dân quân và nhân dân địa phương giúp đỡ, đoàn đã thu được nhiều hiện vật, có mảnh xe tăng còn nguyên tháp pháo, nòng pháo và phiên hiệu “Bát nhất” của Trung Quốc.

Khi vận chuyển hiện vật về Hà Nội, những cuộc hành quân trong đêm cực kỳ vất vả, có lần đi qua ngầm Tài Hồ Xìn gặp lũ về, toàn đoàn phải ngồi chờ tới nửa ngày dưới nắng gắt, nóng bỏng trong khí hậu khô ráp và ngột ngạt của gió nóng trên vùng biên giới. Đoàn lại được nhân dân địa phương giúp đỡ từng bữa cơm, ngụm nước, chỗ nằm ngủ trong đêm, ân nghĩa đó cứ sâu lắng mãi trong tôi. Điều này càng khẳng định tình yêu Tổ quốc và công lao đóng góp của nhân dân là vô tận. Trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, đến khi giành được độc lập dân tộc, tình đoàn kết quân dân được minh chứng bằng câu nói đi vào lịch sử: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc hành trình tìm kiếm, trong vòng hai tháng, đoàn cán bộ bảo tàng đã đưa được nhiều hiện vật về Hà Nội, kịp thời trưng bày tại Trung tâm triển lãm Giảng Võ, Hà Nội. Chuyến xe cuối cùng, bà con dân bản và cán bộ địa phương tiễn quân đi như một chiến thắng oai hùng của tình yêu Tổ quốc từ biên giới gửi về Thủ đô. Tình đất tình người nơi đây luôn xứng đáng với lòng tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 30 năm Người bôn ba đi tìm đường cứu nước, lúc trở về đã chọn Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng, trên núi rừng Việt Bắc để lãnh đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Và hôm nay nếu không có sự giúp đỡ của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao bằng thì nhiệm vụ của chúng tôi sẽ còn gặp nhiều khó khăn vất vả, rất khó kịp tiến độ thời gian quy định.

Kỷ vật tại bảo tàng quân sự là vật chứng mang tính thời đại, là văn hóa lịch sử nhân loại trong cuộc trường chinh của dân tộc. Người lính làm công tác bảo tàng lịch sử coi đó là sứ mệnh thiêng liêng mà quân đội và Tổ quốc giao phó. Chúng tôi luôn tự hào được đóng góp sức mình cho vinh quang của đất nước./.

Xuân Quế[1]

 

[1] Cựu chiến binh Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Nguồn: Đỗ Xuân Quế (CCB Bảo tàng LSQSVN)
18-06-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s