Di tích lịch sử Nhà D67


15-04-2018
Di tích Nhà D67 gắn liền với hoạt động của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ tháng 9/1968. Đây là “cơ quan chiến lược quân sự cao nhất của Đảng, nơi Bộ Thống soái tối cao ra những quyết sách chiến lược quan trọng, lập một võ công có tầm cỡ dân tộc và thời đại trong thế kỷ XX”.


Năm 1966, đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng không quân đánh phá Thủ đô Hà Nội. Để đảm bảo an toàn nơi làm việc của cơ quan Tổng hành dinh trong chiến tranh, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng một ngôi nhà trong khu A của Bộ Quốc phòng. Ngôi nhà được thiết kế và xây dựng trong năm 1967 nên được gọi là Nhà D67. Ngoài ra, nhà D67 còn có tên gọi khác là nhà họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

Nhà D67 nằm ở tọa độ 20o56 vĩ Bắc, 105o30 kinh Đông, thuộc khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp Hậu Lâu, phía Nam giáp sân sau Điện Kính Thiên cũ, phía Đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía Tây giáp đường Hoàng Diệu.

Bản thiết kế công trình do Viện Thiết kế kiến trúc Bộ kiến trúc phụ trách từ tháng 4 đến 25/7/1967. Đơn vị thi công được Bộ Kiến trúc tuyển chọn. Đồng chí Ngô Thanh Cẩn – Cục trưởng Cục Thi công trực tiếp chỉ đạo.

Đây là ngôi nhà một tầng, độ cao đỉnh mái là 7,89m, độ cao trong phòng 3,8m. Ngôi nhà có 5 gian, diện tích mỗi gian là 7,6m x5,7m với hành lang xung quanh. Sảnh chính hướng Bắc có 9 bậc thang, sảnh phụ hướng Nam có 3 bậc thang. Bốn góc nhà có 4 lối lên xuống, mỗi lối có 9 bậc.

Kết cấu móng, tường, mái được xây dựng bằng bê tông cốt thép nguyên khối mác 400. Tường ngoài dày 0,60m, tường ngăn dày 0,28m; mái có 3 lớp; trần dày 0,15m; ở giữa đệm cát dày 0,7 – 1,15m, lớp trên dày 0,35m; ngoài ra còn có lớp chống thấm, chống nóng ở phía trên. Móng đặt sâu dưới mặt đất 1m, nền cao 2,21m, mặt nền lát gạch granite kích thước 0,4 x 0,4m. Cửa có hai lớp, lớp ngoài bằng thép tấm, lớp trong bằng gỗ. Nhà 67 chịu được mảnh bom đạn thông thường, bom bi và mảnh tên lửa không đối đất của không quân Mỹ. Phần nổi của Nhà D67 gắn liền với phần ngầm của tòa nhà.


Phòng họp Bộ Chính trị và quân ủy Trung ương - Ảnh Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội.

Các phòng chính của Nhà D67 bao gồm:

Phòng họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, có hai gian thông thủy, diện tích 76m2 với 4 cửa đối xứng nhau theo trục Bắc - Nam, mỗi cửa có hai cánh, rộng 1,5m. phòng còn có hai cửa xép đối xứng nhau theo trục Đông – Tây, mỗi cửa rộng 1m, cao 2,2,m, sát tường bao phía Bắc.

Phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có diện tích 35m2 với hai cửa lệch theo trục Bắc – Nam, một cửa sát tường phía Đông Bắc, một cửa sát tường phía Tây – Nam. Mỗi cửa rộng 1m, cao 2,2m. Ngoài ra, căn phòng còn có một cửa ngách nối với phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Cửa sổ phía Đông có kích thước 1,8 x 1,4m; cửa sổ phía Nam có kích thước 1,2 x 1,4m.

Phòng làm việc của Đại tướng Văn Tiến Dũng có diện tích 35m2,, được thiết kế xây dựng giống phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ khác cửa ngách của phòng thông sang phòng nghỉ giải lao.

Ngoài ra, căn nhà còn có Phòng nghỉ giải lao có diện tích 37m2, phòng vệ sinh. Hai cửa hầm ngầm của Nhà D67 được nối với hành lang phía Nam, cửa rộng 1,2m bằng thép tấm. Cửa hầm ngầm phía Tây Nam đối diện với cửa ra vào phòng nghỉ giải lao; cửa hầm ngầm phía Đông Nam đối diện với cửa phòng họp và phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhà D67 là nơi gắn bó với nhiều vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quân đội như đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các Ủy viên Bộ Chính trị như đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương; các Ủy viên Quân ủy Trung ương: Song Hào, Lê Quang Đạo, Trần Quý Hai… các tướng lĩnh như Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Đinh Đức Thiện…

Từ tháng 9/1968 đến 30/4/1975, nhà D67 là nơi tập trung trí tuệ, năng lực, kinh nghiệm của các đồng chí lãnh đạo trong việc đề ra chủ trương, kế hoach chiến lược, chiến dịch, ra các chỉ thị, mệnh lệnh cho quân, dân cả nước chiến đấu, đánh bại hết chiến lược quân sự này đến chiến lược quân sự khác của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi trọn vẹn cho dân tộc.

Tháng 01/1971, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực đường 9 - Nam Lào.


Phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ảnh Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội.

Ngày 30/9/1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp, thống nhất kế hoạch chiến lược cơ bản dự thảo lần thứ bảy do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phải có kế hoạch tạo thời cơ và đón thời cơ, trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ khi thời cơ chiến lược xuất hiện. “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.”[1] Tây Nguyên được chọn làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tổng tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.

Ngày 18/12/1974, “Bộ Chính trị họp mở rộng tại Tổng hành dinh, ngôi nhà mái bằng ẩn kín dưới những tán lá cây dày đặc với những căn hầm làm việc kiên cố, nơi đã từng diễn ra nhiều cuộc họp cơ mật của Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương, hôm nay lại chứng kiến một sự kiện lịch sử có ý nghĩa quyết định. Lần cuối cùng, ý chí và trí tuệ của Đảng được tập trung cao độ, lập kế bày mưu quyết tâm giành toàn thắng[2]. Cuộc họp bế mạc ngày 8/1/1975 xác định: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ chúng ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc[3].

Taị cuộc họp, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm: “Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975 - 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường Miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam[4].


Bộ Chính trị họp quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Sáng 31/3/1975, Bộ Chính trị họp mở rộng và nhận định : “Cách mạng nước ta đang phát triển sôi nổi nhất với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy Bộ Chính trị quyết định, nắm vững thời cơ chiến lược với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng tư, không thể chậm[5]. Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi mệnh lệnh đến toàn quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và quyết thắng”[6].

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân ủy Trung ương còn tổ chức một số hội nghị tại nhà D67 để bàn kế hoạch xây dựng lực lượng và chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Nhà D67 là công trình kiến trúc quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn tương đối nguyên vẹn. Đây là một công trình kiến trúc quân sự đơn thuần nhưng giá trị sử dụng rất cao. Trong 7 năm, ngôi nhà đã đảm bảo an toàn cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội làm việc, hoạch định chủ trương, chỉ đạo tổ chức thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.


[1] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 170

[2] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 140

[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 169

[4] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 170

[5] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 172.

[6] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 286


Nguồn: Thanh Tâm
15-04-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s