Trung tướng Nguyễn Bình - Tư liệu, hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Phần 1)


18-07-2018
Tham dự Hội thảo khoa học “Trung tướng Nguyễn Bình với cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên” diễn ra ngày 18/7/2018, Thiếu tướng. TS Nguyễn Xuân Năng, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tham luận bài viết có tựa đề “Trung tướng Nguyễn Bình - Tư liệu, hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam”. Trang tin điện tử trân trọng giới thiệu quý độc giả bài viết này.

Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh tháng 7 năm 1908, là con thứ trong một gia đình trung lưu gồm có 5 người con. Năm 11 tuổi, Nguyễn Phương Thảo được cha mẹ gửi lên Hải Phòng để theo học bậc thành chung. Tại đây, Nguyễn Phương Thảo vừa học vừa tham gia các phong trào yêu nước trong giới học sinh nên bị mật thám Pháp theo dõi.

Năm 1928, được Trần Huy Liệu vận động gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng, phụ trách quân sự. Sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo đều bị thực dân Pháp bắt giam và bị Toà đại hình Sài Gòn kết án, đày ra Côn Đảo 5 năm (1930-1935). Năm 1936, ông về Hải Phòng hoạt động cách mạng và xây dựng căn cứ riêng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, với ý nghĩa “Bình thiên hạ”, chính thức ly khai Việt Nam Quốc dân đảng và bắt mối với Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu, Trần Huy Liệu, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt). Năm 1942, ông được Trung ương (trực tiếp là Hạ Bá Cang) giao nhiệm vụ mua sắm vũ khí, thuốc nổ chuẩn bị vũ trang.


Trung tướng Nguyễn Bình - Ảnh Từ điển BKQSVN 2009.

Từ năm 1943, ảnh hưởng của Nguyễn Bình từ Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên mở rộng sang vùng Kiến An, Hải Phòng, đến An LãoHải AnThủy Nguyên, tỉnh lị Kiến An và thị xã Đồ Sơn. Sau Hội nghị Quân sự Bắc kỳ (từ 15/4 đến 20/4/1945), Trung ương chỉ thị gấp rút thành lập các chiến khu, trong đó có Chiến khu Đông Triều. Ngày 6/6/1945 tại làng Đạm Thủy (xã Thủy An, Đông Triều), Mặt trận Việt Minh đã họp, quyết định thành lập Chiến khu Đông Triều (Chiến khu Trần Hưng Đạo). Ban lãnh đạo khởi nghĩa quyết định thành lập Ủy ban quân sự cách mạng gồm 4 đồng chí: Nguyễn Bình, Hải Thanh, Nguyễn Hiền, Trần Cung. Nguyễn Bình và đảm nhận nhiệm vụ Tư lệnh Chiến khu.

Trên thực tế, vào đầu năm 1945, ở Đông Triều đã từng bước hình thành một căn cứ khá vững của ta. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng là “Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”. Trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, từ tháng 6 đến tháng 8/1945, lực lượng vũ trang cách mạng mà hầu hết là những Đoàn viên Thanh niên hăng hái, dưới sự lãnh đạo Đảng mà trực tiếp là đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy đã đồng loạt tấn công 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thủy Nguyên, Uông Bí và Bí Chợ, đặc biệt là trận Quảng Yên. Trong trận này thu được 600 súng trường, 40 súng liên... và thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo.

Ngày 20/7/1945, Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng vũ trang, hỗ trợ cướp chính quyền ở thị xã Quảng Yên. Đây là đơn vị hành chính đầu tiên ở Bắc Bộ giữ được chính quyền. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nguyễn Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử vào miền Nam làm nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ. Trên cương vị Khu trưởng Khu 7 rồi Tư lệnh mặt trận Nam bộ, kiêm Phó Chủ tịch Câu lạc bộ kháng chiến hành chính Nam Bộ. Ông hy sinh tháng 9/1951 trên đường đi công tác.


Nhà tưởng niệm Trung tướng Nguyễn Bình tại thôn Yên Phú, xã Giai Phạm (Yên Mỹ, Hưng Yên) - Ảnh Báo Hưng Yên.

Cuộc đời ông là tấm gương sáng của người chiến sĩ cách mạng. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam – nơi lưu giữ, trưng bày và phát huy giá trị di sản văn hóa quân sự Việt Nam, nổi bật là là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Về Trung tướng Nguyễn Bình, hiện vật trưng bày về ông không nhiều nhưng đây là những hiện vật tiêu biểu gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của ông.

Đó là các hiện vật như sau:

Súng trường với số đăng ký 2049-K3-181, ta thu được trong trận tiêu diệt đồn Uông Bí. Trận đánh do đồng chí Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy, ngày 1/7/1945, khẩu súng sau đó được du kích của chiến khu sử dụng chiến đấu giải phóng Quảng Yên (20/7/1945) và giành chính quyền ở Hải Phòng tháng 8/1945.

Ngày 26/6/1945, Ủy ban Quân sự cách mạng chiến khu họp tại Ba Xã đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy du kích tiêu diệt đồn Uông Bí và trại huấn luyện sĩ quan Đại Việt ở Bí Chợ. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng vì tại thời điểm đó, lực lượng du kích của ta rất mỏng, vũ khí hết sức thô sơ và thiếu thốn. Tuy nhiên, nếu giành thắng lợi, sẽ khiến địch suy sụp tinh thần, qua đó tạo đà để phát triển lực lượng của chiến khu, củng cố cơ sở cách mạng ở địa phương. Đồn Uông Bí thường xuyên có 6 tên lính Nhật, 60 lính bảo an và 13 lính khố đỏ chốt giữ. Vũ khí gồm 1 đại liên, 4 trung liên và hơn 70 súng trường.


Khẩu súng trường thu được trong trận tiêu diệt đồn Uông Bí do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy, ngày 1/7/1945 - Ảnh BTLSQSVN.

Ngày 28/6/1945, 5 du kích được trang bị súng ngắn, mang sắc phục lính bảo an, do Nguyễn Quý Đôn chỉ huy rời căn cứ đến gặp Nguyễn Bình ở cửa sông Uông Bí. Nguyễn Bình bổ sung nhiệm vụ đánh đồn Uông Bí cho Nguyễn Quý Đôn và giới thiệu với Cai Dung, một cơ sở cách mạng mới được giác ngộ ở đồn. Cai Dung đưa đội du kích vào đồn Uông Bí nắm tình hình và trang bị thêm vũ khí. Đến 23 giờ ngày 30/6, Nguyễn Quý Đôn bí mật đến gặp hơn 30 lính bảo an, tuyên truyền, thuyết phục họ dừng các hành động chống phá Tổ quốc, dân tộc và kêu gọi họ ủng hộ cách mạng, tham gia chống Nhật, cứu nước, cứu nhà.

6 giờ ngày 1/7, lợi dụng khi hai tên Nhật đi thuyền ra sông Bạnh Đằng kiếm cá để một tên ở lại sân đồn. Du kích đã hạ sát tên này, rồi cùng lính bảo an lấy trung liên và đại liên bắn bọn đi đánh cá. Một tên chết, một tên chạy thoát vào bờ. Hai kỹ sư Nhật trong nhà máy điện Uông Bí bị công nhân bắt gọn. Kết thúc trận đánh, du kích và lính bảo an được ta giác ngộ đã bắt sống toàn bộ số quân Nhật trong đồn và trong nhà máy, thu hơn 60 súng trường, 3 súng máy, cùng nhiều đạn dược, nhận 9 lính khố đỏ tình nguyện tham gia du kích và rời khỏi đồn mang theo chiến lợi phẩm về chiến khu. Chiến thắng Uông Bí tạo thế, tạo lực mới cho chiến khu Đông Triều, mở hướng phát triển về Quảng Yên, Hòn Gai, Kiến An và Hải Phòng, cơ sở cách mạng có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Sau chiến thắng này, vũ khí của chiến khu Trần Hưng Đạo được bổ sung và tăng lên gấp ba lần, gồm 500 khẩu các loại gồm đại liên, trung liên, tiểu liên, súng trường...

Nhờ thu được số lượng lớn vũ khí, lực lượng vũ trang Chiến khu Đông Triều có điều kiện phát triển nên Ủy ban Quân sự cách mạng chiến khu quyết định tổ chức thêm lực lượng vũ trang tập trung. Tổng quân số của chiến khu đã lên tới 400 người, được biên chế thành các trung đội hoàn chỉnh, trong đó có cả một tiểu đội nữ vũ trang tuyên truyền, một tiểu đội nữ du kích, một tiểu đội nữ cứu thương. Đặc biệt sau đó còn tổ chức thêm một đơn vị thủy binh.

(Còn nữa)./.


[*] nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Nguồn: Thiếu tướng TS Nguyễn Xuân Năng[*], Thiếu tá Nguyễn Thị Lan Hương
18-07-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s