Quá trình hình thành, phát triển phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1930-1945) (Phần 1)


15-08-2018
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi của một quá trình chuẩn bị lâu dài về mọi mặt của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Thắng lợi đó là kết tinh của sự đấu tranh anh dũng bất khuất của nhân dân Việt Nam trải qua các cao trào 1930-1931; 1936-1939; 1939-1945.

Một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi vĩ đại này không thể không nhắc tới đó là việc sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực khoa học để phát huy sức mạnh tổng hợp trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền  của Đảng trong những năm 1930-1945.

Thấm nhuần quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, vận dụng vào điều kiện cụ thể ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên biến lập trường từ chủ nghĩa yêu nước chân chính sang lập trường giai cấp vô sản và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Từ quá trình nghiên cứu, tìm tòi, khảo nghiệm, Người đã hình thành những quan điểm về cách mạng thuộc địa, về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã sớm hình thành những quan điểm cơ bản về sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực trong đấu tranh giành chính quyền.


Tự vệ và nhân dân Hà Nội trong ngày Tổng khởi nghĩa, ngày 19/8/1945 - Ảnh TL BTLSQVN.

Trong đó, Đảng xác định con đường giành chính quyền ở Việt Nam nhất thiết phải bằng con đường cách mạng bạo lực, dựa vào sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân nhằm lật đổ ách thống trị của đế quốc, tay sai, lập nên Chính phủ công nông. “Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được bộ phận mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”[1]. Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam làm “tư sản dân quyền cách mạng”… và “thổ địa cách mạng”… để đi tới xã hội cộng sản. Trong đó xác định rõ nhiệm vụ, lực lượng cách mạng, vấn đề đoàn kết liên lạc với quốc tế… Tuy nhiên, đây là văn kiện vắn tắt chưa thể bao quát hết những vấn đề lý luận, thực tiễn vốn rất phức tạp ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Do đó, tư tưởng cách mạng bạo lực tiếp tục được phát triển trong Luận cương Chính trị tháng 10/1930 của Đảng.

Luận cương Chính trị khẳng định: con đường giành chính quyền thắng lợi được tiến hành bằng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Để đảm bảo khởi nghĩa thắng lợi, Luận cương chỉ rõ phải tổ chức xây dựng lực lượng cách mạng từ thấp đến cao. Luận cương chỉ rõ, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền không phải là việc bình thường, mà là một nghệ thuật, phải theo “khuôn phép nhà binh”, phải đề phòng, ngăn ngừa thái độ “đùa với khởi nghĩa”; phải đặt khởi nghĩa vũ trang của quần chúng trong khuôn khổ tình thế cách mạng và theo quy luật của đấu tranh cách mạng.

Mặt khác, Luận cương còn đề cập đến nghệ thuật, thời cơ khởi nghĩa. Khởi nghĩa phải dựa trên một cao trào cách mạng của quần chúng, nổ ra đúng thời cơ. Thời cơ đó là: Khi kẻ thù hoang mang cực độ, các tầng lớp trung gian ngả về phía cách mạng, quần chúng cách mạng và đội tiền phong đã sẵn sàng. Lúc thường, chưa có tình thế cách mạng trực tiếp chỉ sử dụng những hình thức đấu tranh thấp, nhằm đấu tranh giành quyền dân sinh, dân chủ, thực hiện “đấu tranh phần ít”, qua đó mà tập hợp, tổ chức quần chúng và rèn luyện Đảng. Khi tình thế cách mạng xuất hiện thì khẩu hiệu và hình thức đấu tranh phải cao hơn, từng bước đưa quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, tiến hành khởi nghĩa toàn dân, lập Xô Viết, lập hội đồng tịch ký ruộng đất, sản nghiệp của bọn bóc lột, do giai cấp công nhân kiểm soát…


Các chiến sĩ đội tự vệ Đỏ thuộc chiến khu Hỏa Quân, Đông Sở (Nghệ An) trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh - Ảnh TL BTLSQSVN.

Những quan điểm cơ bản của Luận cương đã phản ánh trung thành lý luận Mác-Lê nin về bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của cách mạng vô sản, đồng thời phản ánh đúng thực tiễn xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam bị kìm kẹp trong hai chế độ: thực dân và phong kiến cho nên tất yếu chúng ta phải sử dụng phương pháp bạo lực để chiến thắng kẻ thù, giành độc lập dân tộc, đó là con đường duy nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Như vây, Luận cương chính trị có sự bổ sung, phát triển rất cơ bản và quan trọng về phương pháp cách mạng bạo lực so với Cương lĩnh Chính trị đầu tiên. Đến đây, phương pháp giành chính quyền của Đảng căn bản định hình, phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam.

Theo đó, trong những năm 1930-1931, khi tình thế cách mạng chưa xuất hiện, Đảng chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực lượng chính trị, từng bước phát triển các đội tự vệ võ trang. Tiêu biểu là việc ra đời các đội tự vệ công nông với các hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh phong phú đòi những quyền lợi rất cơ bản về dân sinh, dân chủ nhằm chống khủng bố, chống chiến tranh. Qua đó, tập hợp lực lượng và rèn luyện họ trong đấu tranh làm quen thích ứng với phương pháp bạo lực cách mạng để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền sau này.

Đến cao trào cách mạng 1936-1939, Đảng khéo léo lợi dụng điều kiện chính trị thuận lợi để phát triển nhiều hình thức đấu tranh bí mật bất hợp pháp, với công khai hợp pháp và nửa hợp pháp để tập hợp và rèn luyện quần chúng trong đấu tranh cách mạng, với nhiều hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh phong phú, đa dạng. Để tập hợp quần chúng vào một khối đại đoàn kết thống nhất đấu tranh chống kẻ thù chung, Đảng đã thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, là nơi tập hợp đông đảo lực lượng chính trị mà nòng cốt là liên minh công-nông. Mặt trận dân chủ Đông Dương là nơi rèn luyện để lực lượng chính trị phát huy vai trò trong cách mạng bạo lực giành chính quyền khi điều kiện cho phép.

(Còn nữa)./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1998, tr.4.


Nguồn: Lê Thanh Huyền, Lượng Thanh Tâm - Hệ 6, Học viện Chính trị
15-08-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s