Những quan điểm đầu tiên của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thời kỳ 1930-1935


03-02-2018
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định mô hình về lực lượng vũ trang đầu tiên của cách mạng Việt Nam là “tổ chức ra quân đội công nông” (2/1930), “lập quân đội công nông” (10/1930). Đây là định hướng ban đầu rất quan trọng để tiến tới xây dựng quân đội cách mạng trong tương lai.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác - Ăngghen đã chỉ ra: giai cấp công nhân muốn giải phóng mình, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại khỏi áp bức, bóc lột, bất công thì tất yếu phải sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản giành chính quyền về tay nhân dân lao động. Tức là giai cấp vô sản nhất thiết tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang của giai cấp mình để cùng nhân dân lao động đánh đổ giai cấp thống trị là bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản.

Kế thừa và phát triển quan điểm của Mác - Ăngghen, Lênin nêu bật quan điểm xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, sự cần thiết phải xây dựng quân đội nhân dân. Ngư­ời đã nêu lên các nguyên tắc xây dựng quân đội nhân dân với hai nguyên tắc cơ bản là: Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và phải tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Lênin không chỉ phát triển quan điểm về vũ trang mà còn phát triển quan điểm về xây dựng quân đội th­ường trực, xây dựng quân đội chính quy của Nhà n­ước trên cơ sở vũ trang toàn dân. Đây là một cống hiến vĩ đại của Lênin vào kho tàng lý luận quân sự của giai cấp vô sản.

Ở Việt Nam, trong những năm đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam dưới hình thức là các đội nghĩa quân (nghĩa quân yên Thế) và một số tổ chức vũ trang yêu nước (Duy Tân Hội, Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam Quốc dân Đảng) chống Pháp diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại. Điều đó cho thấy, cách mạng Việt Nam đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và thiếu hẳn một lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh.


Tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Ảnh Internet.

Nguyễn Ái Quốc ngay từ rất sớm đã nhận thức sâu sắc vấn đề xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang. Vì thế, trong những năm hoạt động ở Nga, Người đã có những nghiên cứu bước đầu rất quan trọng về hình thức tổ chức quân sự sơ khai ở Việt Nam. Tháng 9/1924, Người chủ trương “tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của người nông dân ở nước ta. Đó là những “tế bào” có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa”[i]. Tiếp đó, Người chủ trương phải đưa những thanh niên yêu nước Việt Nam ra nước ngoài đào tạo những cán bộ quân sự. Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên và liên tiếp mở các khóa huấn luyện cho cán bộ Việt Nam. Những bài giảng của Người  sau tập hợp thành tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Trong tác phẩm, Người nhấn mạnh: Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công và các lực lượng trong tổ chức quân sự bao gồm “công nông là gốc cách mạng… còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ đều là bầu bạn cách mạng của công nông”[ii]. Những luận điểm trên là cơ sở để Đảng ta sau này xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Nam, bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, trước hết là tổ chức các đội du kích, đội tự vệ.

Sau khi trở lại nước Nga, Người viết nhiều tác phẩm, trong bài giảng về “Các phương pháp du kích cách mạng”, Người đã phác họa mô hình về tổ chức và hoạt động của đơn vị du kích nông dân và chỉ rõ “không thể giấu mình một cách đơn giản vào những toán nông dân vũ trang đã có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào, cũng tựa như không thể tùy ý thành lập đội Tự vệ đỏ trong các nhà máy vậy”[iii]. Lần đầu tiên, đội Tự vệ đỏ được đề cập đến. Riêng về hình thức tổ chức đội du kích được nêu cụ thể: Các đơn vị du kích nông dân tập hợp tất cả những phần tử tiên tiến và hăng hái trong các làng mạc; chỉ huy là những người tin cậy về chính trị và được huấn luyện về quân sự. Lực lượng lúc đầu gồm 5 đến 10 người, được thành lập từ làng nọ đến làng kia và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các làng, tới các ủy ban quân sự xã, huyện và đại diện ở các làng. Đến khi phong trào phát triển, các nhóm du kích hợp thành những đơn vị lớn cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn… Về trang bị của các đơn vị du kích  gồm những loại vũ khí phù hợp với nông dân như: súng săn, súng lục, lựu đạn, bom mìn… chủ yếu là thu được sau mỗi trận tập kích vào các kho vũ khí của các toán lính địch.

Có thể thấy, những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về hình thức tổ chức lực lượng vũ trang gồm: đội du kích, đội tự vệ công nông đã góp phần trực tiếp vào sự hình thành một số quan điểm đầu tiên của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang ở Việt Nam, với hình thức tổ chức ban đầu là các đội tự vệ công nông và du kích.

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đã thông qua Chính cương vắn tắt, trong đó có nêu hình thức tổ chức quân sự của Đảng là “tổ chức ra quân đội công nông”. Thực hiện chủ trương đó, Đảng đã chỉ đạo xây dựng tổ chức Đảng, các tổ chức quần chúng cách mạng (công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ). Đồng thời ra chỉ thị xây dựng đội tự vệ công nông làm nòng cốt hỗ trợ và bảo vệ quần chúng đấu tranh. Trong khi đó, tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất họp thông qua Luận cương chính trị trong đó nêu rõ: “Đảng phải hết sức khuếch trương công tác… một mặt tổ chức trong quân đội, một mặt tổ chức đội tự vệ của công nông”[iv].


Bài ca du kích trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam - Ảnh BTLSQSVN.

Quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ban đầu là đội tự vệ công nông được thể hiện trong “Án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng”. Về quân sự, Nghị quyết nhấn mạnh: “Mục đích của Đảng là lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động. Vậy nên ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để: là cho đảng viên được quân sự huấn luyện. Giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ”[v]. Theo quan điểm của Đảng thì đội tự vệ công nông là cách gọi chung các đội tự vệ công nhân và nông dân. Đây là hai thành phần đông đảo nhất, cơ bản nhất, là lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam. Những quan điểm đầu tiên của Đảng về lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam với hình thức ban đầu là đội tự vệ công nông được hình thành trên cơ sở con đường cách mạng bạo lực và thực tiễn phong trào cách mạng nước ta. Điều đó thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong quá trình vận dụng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng tổ chức quân sự cách mạng vô sản vào điều kiện cụ thể ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là các xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, các đội tự vệ công nông lần lượt được ra đời. Đặc biệt tại Trung Kỳ là địa bàn hình thành nhiều đội tự vệ công nông hơn cả và phát triển hết sức mạnh mẽ trong những năm 1930 - 1931. Mặc dù quân địch khủng bố hết sức gắt gao song các chiến sĩ Tự vệ đỏ - danh hiệu của các đội tự vệ công nông vẫn kiên cường chiến đấu. Trước tình thế cách mạng đi vào thoái trào, tháng 6/1932, Trung ương Đảng khởi thảo “Chương trình hành động” chỉ rõ: phải tập trung gìn giữ lực lượng, trong đó đội tự vệ công nông được duy trì dưới hình thức mới “sắp đặt hàng ngũ cho chỉnh tề, lo dự bị võ trang bạo động kỳ đánh đổ được quân áp bức”[vi]. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, trong những năm 1932 - 1934, đội tự vệ công nông được bảo toàn lực lượng trong điều kiện bí mật.

Đến năm 1935, nhằm tăng cường sự lãnh đạo đối với phong trào cách mạng nói chung và đội tự vệ nói riêng, từ ngày 27 đến 31/3/1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp, trong đó có Nghị quyết về Đội tự vệ. Nghị quyết Đội tự vệ tổng kết kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của đội tự vệ công nông trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, nêu rõ mục đích tổ chức, nguyên tắc xây dựng, hoạt động của đội tự vệ công nông.


Các đồng chí tự vệ Đỏ thuộc chiến khu Hỏa Quân và Đông Sở trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Mục đích của Đội tự vệ là: Ủng hộ quần chúng hàng ngày; Ủng hộ quần chúng trong các cuộc đấu tranh; Ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩ cách mạng của công nông; Quân sự huấn luyện cho lao động cách mạng. Chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cách mạng phát triển thắng lợi.

Về hình thức tổ chức Đội tự vệ, Nghị quyết nhấn mạnh: “Công nông tự vệ đội phân biệt với Du kích đội, nó cũng không phải là hồng quân; hồng quân, du kích đội không phải bao giờ muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn Đội tự vệ hễ có cách mạng vận động dù yếu mấy cũng có thể là cần phải tổ chức ngay. Tự vệ đội càng mạnh thì tức là có điều kiện thuận tiện để sau này tổ chức du kích chiến tranh, võ trang bạo động, hồng quân”[vii].

Về nguyên tắc xây dựng Đội tự vệ công nông, Nghị quyết nêu rõ: Thứ nhất là phải xây dựng về mặt chính trị. Đó là phải xác định rõ bản chất giai cấp, bản chất cách mạng của Đội tự vệ. Tính chất của Đội tự vệ là loại hình nửa quân sự của quần chúng nhân dân lao động, chủ yếu là công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thứ hai là phải xây dựng về mặt tổ chức, biên chế, trang bị và huấn luyện “Công nông cách mạng tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân ủy của Đảng Cộng sản, lấy sản nghiệp và làng hay xã làm cơ sở tổ chức”[viii].

Nghị quyết cũng nhấn mạnh cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của Đội tự vệ đó là giữ quyền chỉ huy của Đảng trong tự vệ thường trực: “Từ Trung ương cấp ủy đến mỗi thành ủy, tỉnh ủy phải tổ chức ngay quân ủy, quân ủy này một bộ phận thì lo… tổ chức và chỉ huy Đội tự vệ”[ix]. Trong các ban chỉ huy Đội tự vệ ở cấp trung đội và đại đội, bên cạnh đội trưởng và đội phó có một đại biểu Đảng. Đội trưởng và đại biểu Đảng phải hợp tác mà chỉ huy.

Thành phần của Đội tự vệ gồm những người lao động có nhiệt tình, cương quyết, không phân biệt trai gái, dân tộc, từ 18 tuổi trở lên, được giáo dục về chức trách, nhiệm vụ chính trị của mình.

Nguyên tắc kỷ luật của Đội tự vệ là “hành động hàng ngày thì phục tùng Đảng bộ tương đương. Sự hành động quân sự chung thì phục tùng thượng cấp tự vệ và quân ủy tương đương của Đảng. Đội trưởng và đại biểu Đảng có bất đồng ý kiến thì do Đảng ủy tương đương, hay do thượng cấp quân ủy giải quyết. Kỷ luật Tự vệ công nông cách mạng không phải là kỷ luật nhà binh, nhưng cũng nghiêm khắc. Không thỏa hiệp được với tính lười biếng, rụt rè và bất tuân mệnh lệnh thượng cấp”[x]. Trong nội bộ của Đội tự vệ phải thực hiện dân chủ.


Tranh sơn mài Xô Viết Nghệ Tĩnh của Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Sĩ Ngọc, Huỳnh Văn Thuận, Trần Đình Thọ, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Văn Tỵ - Ảnh Internet.

Về biên chế, tổ chức, Nghị quyết xác định: Đội tự vệ gồm từ 5 đến 9 người tổ chức thành một tiểu đội. Ba tiểu đội tổ chức thành một trung đội. Ba trung đội tổ chức thành một đại đội, cứ theo phép “tam tam chế” mà tổ chức lên. Căn cứ vào sự phát triển của lực lượng cách mạng ở mỗi xí nghiệp, mỗi làng xã mà tổ chức các tiểu đội, trung đội, đại đội tự vệ công nông phù hợp. Đó là các đội tự vệ thường trực. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc huấn luyện quân sự cho quần chúng tham gia công tác tự vệ. Như vậy, trong tổ chức đội tự vệ, vừa có lực lượng nòng cốt là các lực lượng thường trực, vừa có lực lượng quần chúng trung kiên tham gia. Đây là quan điểm thể hiện toàn dân tham gia xây dựng LLVT ban đầu của Đảng.

Về vấn đề trang bị, Nghị quyết chỉ ra: bên cạnh một số vũ khí thô sơ tự trang bị (gậy gộc , giáo mác, kiếm…) phải tìm cách thu được súng của địch mà trang bị cho mình, càng nhiều vũ khí càng tốt. Về công tác huấn luyện quân sự tập trung vào huấn luyện về kỹ thuật và chiến thuật cho tự vệ biết cách sử dụng các loại vũ khí thông thường, biết chiến thuật đánh trong thành phố, chiến thuật du kích chiến tranh.

Nghị quyết Đội tự vệ là những quan điểm đầu tiên, rất cơ bản, rất toàn diện của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng với hình thức là đội tự vệ công nông. Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành quan điểm đường lối quân sự của Đảng trong những năm đầu mới thành lập. Những quan điểm nêu trên sau này đã được Đảng và đồng chí Nguyễn Ái Quốc bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và trở thành bộ phận cấu thành quan điểm về vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Có thể khẳng định, từ hình thức ban đầu là tự vệ (bán vũ trang) rồi đội du kích thoát ly tập trung đến mô hình tổ chức lực lượng vũ trang đầu tiên là đội tự vệ, rồi trong cao trào cách mạng 1930-1931 các đội tự vệ công nông lần lượt được ra đời ở cả ba miền Bắc, Trung , Nam. Ban đầu các đội tự vệ công nông (Tự vệ đỏ) là một hình thức tổ chức bán vũ trang của quần chúng, cho đến khi Xô-Viết ra đời ở Nghệ-Tĩnh nó trở thành tổ chức vũ trang ban đầu theo hình thức “Hồng quân công nông”. Trên cơ sở đội tự vệ công nông hình thành, phát triển, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã ra Nghị quyết về Đội tự vệ, nêu ra những quan điểm đầu tiên về nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, biên chế, trang bị, huấn luyện và hoạt động của Đội tự vệ. Đó là những quan điểm rất cơ bản của Đảng để sau này xây dựng các đội du kích, tự vệ chiến đấu trong những năm tiếp theo.

Như vậy, dựa trên quan điểm Mác - Lênin, tiếp thu tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang và thực tiễn dựng n­ước, giữ nư­ớc của dân tộc ta và thực tiễn các cuộc khởi nghĩa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Đảng ta trong những năm 1930-1935 đã hình thành những quan điểm đầu tiên về xây dựng lực lượng vũ trang, về công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Những quan điểm này còn đư­ợc bổ sung phát triển trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang sau này./.


[i] Hồ Chí Minh-Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb QĐND, H. 1990, tr.239.

[ii] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1995, tr.426.

[iii] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1995, tr.426.

[iv] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2 (1930), Nxb CTQG, H. 1998, tr.102.

[v] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2 (1930), Nxb CTQG, H. 1998, tr.116.

[vi] Văn kiện quân sự của Đảng, tập 1, Nxb QĐND, H. 1969, tr.90.

[vii] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 1999, tr.91-92.

[viii] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 1999, tr.94.

[ix] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 1999, tr.96.

[x] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 1999, tr.95.


Nguồn: Thanh Huyền - Đình Phú, Hệ 6 Học viện Chính trị
03-02-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s