Hệ thống Bảo tàng Quân đội với việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử quân sự


26-11-2018
Lịch sử dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ. Chính vì vậy di sản văn hóa quân sự Việt Nam nói chung, di tích lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng chiếm một tỷ lệ quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Những địa danh: Bạch Đằng, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch Gầm - Xoài Mút, Rừng Trần Hưng Đạo, Điện Biên Phủ, thành cổ Quảng Trị, địa đạo Củ Chi, căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Chiến thắng Chương Thiện, Đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển… đã đi vào tâm thức, trái tim của mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế khâm phục, như những bản anh hùng ca bất diệt của dân tộc Việt Nam. Hệ thống Bảo tàng quân đội nói chung, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói riêng đã có nhiều hoạt động góp phần vào bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử quân sự. Bên cạnh đó cũng còn những hạn chế bất cập cần có những giải pháp khắc phục.

I. Một vài kết quả nổi bật

Đối với Di tích Chiến dịch Điện Biên Phủ, việc tư vấn lập hồ sơ di tích được thực hiện từ khá sớm ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954). Năm 1959 Bảo tàng Quân đội đã tham gia khảo sát tổng thể di tích. Năm 1962, Bảo tàng tham gia lập hồ sơ bước đầu di tích Điện Biên Phủ. Năm 1973, Bảo tàng Quân đội cùng các cơ quan của Bộ Văn Hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Viện Khoa học quân sự xác định trên bản đồ khu vực bảo vệ một số di tích thành phần tiêu biểu của Trung tâm chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cắm mốc khoanh vùng 13 thành phần di tích.

Năm 1984, Viện Bảo tàng Quân đội cùng Bảo tàng Quân khu 1 tham gia khôi phục Sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng, Lán làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lán Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Nhà tác chiến, Đường hầm xuyên núi. Tổ chức sưu tầm, phục chế hiện vật, trưng bày Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, diện tích trong nhà 700m2, ngoài trời 2000m2. Từ năm 1987 đến năm 1996, di tích Chiến dịch Điện Biên Phủ do Phân viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) quản lí, vận hành. Năm 1996, Bộ Quốc phòng bàn giao di tích Chiến dịch Điện Biên Phủ cho tỉnh Lai Châu cũ. Tháng 2/2003, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt dự án tổng thể bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị Khu di tích lịch sử chiến trường Điện Biên Phủ. Tổng cục Chính trị giao Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nhiệm vụ tư vấn. Từ năm 2003 đến 2009, Bảo tàng tổ chức 19 đợt, đưa 60 lần cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong - nhân chứng lịch sử và 22 lần nhân chứng địa phương khảo sát bổ sung, khảo sát mới các di tích thành phần, xác minh, bổ sung, lập mới hồ sơ cho 28 di tích thành phần. Nổi bật là tìm ra Sở Chỉ huy thứ 2 chiến dịch ở Huổi He Ộ xã Nà Tấu - nơi quyết định chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” góp phần quan trọng vào chiến thắng Chiến dịch Điện Biên Phủ, tìm ra vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện hy sinh cứu pháo ở sườn núi Pu Cọ, vị trí anh hùng Phan Đình Giót bịt hoả điểm địch, hy sinh ở phía Bắc mỏm 2 cụm cứ điểm Him Lam, đường hầm đặt bộc phá trong lòng cứ điểm A1, xác định Sở Chỉ huy các Đại đoàn, Trung đoàn, tư vấn chỉnh lý trưng bày Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, bổ sung 300 hiện vật. Biên tập đề cương chính trị, đề cương xây dựng mới Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ.


Khảo sát di tích Điện Biên Phủ, năm 1993. Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Đối với di tích Đường Trường Sơn, ngay sau kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi hoàn toàn, tháng 3 năm 1979, Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng LSQS Việt Nam) phối hợp với Tổng cục Xây dựng kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) và Bộ Văn hoá tổ chức khảo sát lần 1 di tích lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên bộ. Cuộc khảo sát kéo dài 3 tháng liên tục cho ra báo cáo trình bày các điểm di tích theo trình tự thời gian và quy mô phát triển, vận chuyển của con đường qua các thời kì: vận tải thô sơ, đến giai đoạn vận chuyển cơ giới, rồi vận chuyển bằng ba phương thức (đường bộ, đường thuỷ và đường ống). Từng địa điểm có đánh giá giá trị, ghi dấu di tích. Đoàn khảo sát của các cơ quan đã đề nghị Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch sử toàn tuyến đường và từng khu vực có di tích liên quan. Đồng thời, phát hiện, sưu tầm tài liệu, hiện vật để xây dựng Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh, đề xuất làm bia, biển, hướng dẫn địa phương bảo vệ di tích. Năm 2004, theo đề nghị của Binh đoàn 12, Tổng cục Chính trị đã giao cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tham gia phối hợp cùng các đơn vị có liên quan khảo sát đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh (đoạn từ Quảng Trị trở ra).

Năm 1983, Bảo tàng phối hợp với Quân chủng Phòng không, Quân khu Thủ đô, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội, Sư đoàn phòng không 361 khảo sát, lập hồ sơ di tích Trận địa tên lửa Chèm, di tích Trận địa pháo cao xạ Nghĩa Dũng, di tích Trận địa súng máy phòng không Vân Đồn.

Năm 1985, tham gia khảo sát, lập hồ sơ di tích Trận Vạn Tường (Quảng Ngãi). Năm 1994, cùng với Bảo tàng Quân khu 1 giúp tỉnh Cao Bằng khảo sát, lập hồ sơ di tích Rừng Trần Hưng Đạo - nơi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, lập hồ sơ di tích Đồn Phai Khắt, tổ chức trưng bày bổ sung với diện tích 120m2. Năm 1998, tham gia đề án phục hồi, tôn tạo di tích Khe Lau, Tuyên Quang.

Năm 1988 - 1990, Viện Bảo tàng Quân đội phối hợp giúp Bảo tàng Quân khu 7 khảo sát lập hồ sơ di tích Sở Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ở Căm Xe, Bình Dương, khảo sát, lập hồ sơ di tích Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng nha Cảnh sát ngụy, Biệt khu Thủ đô quân đội Sài Gòn. Năm 2003, tham gia đề án phục hồi, tôn tạo Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh (Căm Xe, tỉnh Bình Dương). Năm 1989- 1990, hoàn thành trưng bày chiến dịch Hồ Chí Minh ở nhà số 2 đường Lê Duẩn, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 600m2.

Năm 2003, Bảo tàng Quân khu 2 đã tham mưu với Bộ Tư lệnh Quân khu phối hợp các cơ quan, đơn vị triển khai phục hồi, tôn tạo một số hạng mục di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thạch An, Cao Bằng trong Chiến dịch Biên giới năm 1950. Năm 2006, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cùng Bảo tàng Quân khu 1I lập báo cáo đề xuất Bộ Quốc phòng tiếp tục phục hồi, tôn tạo bổ sung một số hạng mục của khu di tích.

Từ năm 2001 đến 2004, Bảo tàng LSQS Việt Nam đã khảo sát, lập hồ sơ các di tích khu A Bộ Quốc phòng (Nhà D67, Nhà Con rồng, Nhà làm việc Cục Tác chiến, Nhà T78), là các di tích quân sự tiểu biểu - Tổng hành dinh của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, lập đề cương, sưu tầm, phục chế hiện vật, tổ chức trưng bày bổ sung di tích nhà D67 diện tích 225m2.

Năm 2002, tham gia trưng bày bổ sung di tích Tà Cơn, Quảng Trị. Năm 2003, tham gia khảo sát, năm 2004, tham gia lập đề cương, thiết kế trưng bày bổ sung di tích hàng rào điện tử Mắc Namara. Trong năm 2003, cùng Bảo tàng Quân khu 1 xây dựng Nhà truyền thống xã Định Biên - nơi đóng quân của Tổng cục Chính trị những năm 1949-1954 (Định Hoá, Thái Nguyên). Tham gia đề án phục hồi, trưng bày bổ sung di tích Chiến khu D (tỉnh Đồng Nai).

Từ năm 2010 đến 2012, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cùng các Bảo tàng Quân khu 1, Bảo tàng Hậu cần, Bảo tàng Vũ khí... tập trung tham gia khảo sát, cùng địa phương xây dựng hồ sơ di tích ATK Định Hóa (Thái Nguyên), kết quả là các di tích Bộ Tổng Tư lệnh, di tích Địa điểm thành lập Tổng cục Chính trị và nơi làm việc của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1949-1954), Địa điểm thành lập Tổng cục Hậu cần và nơi làm việc của đồng chí Trần Đăng Ninh, Địa điểm Báo Quân đội ra số đầu tiên (20/10/1950) được xếp hạng di tích quốc gia. Lễ đón nhận Bằng Di tích cấp quốc gia được tổ chức trang trọng tại Định Hóa.

Các Bảo tàng trong hệ thống bảo tàng quân đội đều tham gia bảo tồn, tôn tạo di tích ở mức độ khác nhau như: Bảo tàng Hải quân với di tích Đặc công hải quân, di tích Chiến thắng Cửa Việt; Bảo tàng Quân khu 1 với các di tích thuộc ATK, di tích Đông Khê, di tích Rừng Trần Hưng Đạo, Lán Tỉn Keo; Bảo tàng Quân đoàn II với di tích Ba Lòong (Quảng Trị); Bảo tàng Hậu cần với di tích nơi thành lập Tổng cục Hậu cần tại ATK Định Hóa (phục hồi cơ bản hầm làm việc, xây nhà trưng bày bổ sung di tích hàng trăm m2); Bảo tàng Tổng cục II cũng tham gia khảo sát di tích Căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh), di tích Tà Thiết (Bình Phước), nghiên cứu đề xuất xây dựng bia kỷ niệm ngành Tình báo quốc phòng, Quân báo Miền trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bảo tàng Thông tin tham gia bảo tồn di tích Trạm cơ vụ A69 tại Lèn Hà (Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình), Bảo tàng Tăng Thiết giáp đã tham gia bảo tồn, tôn tạo di tích Tà Mây và Làng Vây, trong chiến dịch Đường 9-Khe Sanh (Quảng Trị), ngày 27/1 và ngày 7/2/1968...

Cho đến nay, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã cùng các bảo tàng quân đội tham gia bảo tồn, tôn tạo hàng trăm di tích lịch sử quân sự ở phạm vi khác nhau, góp phần lưu giữ, phát huy giá trị các di tích đó ở hầu khắp cả nước, trong đó di tích chiến dịch Điện Biên Phủ là nơi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tham gia thời gian dài nhất, lực lượng đông nhất và kết quả đạt được nhiều nhất.


Đoàn cán bộ Viện Bảo tàng Quân đội khảo sát di tích Mường Phăng, năm 2002. Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

II. Hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được trong bảo tồn, tôn tạo và phát huy gía trị di tích lịch sử quân sự còn nhiều bất cập, hạn chế.

1. Công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích nói chung, di tích lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng của một số địa phương còn bất cập. Kinh phí được đầu tư ít, không bố trí lực lượng bảo vệ, cán bộ chuyên môn, chưa tuyên truyền về giá trị di tích dẫn đến nhiều di tích trở thành hoang phế.

2. Nhiều di tích lịch sử quân sự chưa có sự tham gia tư vấn của các chuyên gia về lịch sử quân sự nên việc trùng tu, tôn tạo chưa sát với tính nguyên gốc.

3. Một số di tích kể cả di tích quốc gia đặc biệt chưa được đầu tư kinh phí tương ứng để tu bổ, tôn tạo, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào tôn tạo di tích (xã hội hóa)...

4. Chưa có cơ chế thống nhất trong việc quản lý các di tích lịch sử quân sự (nơi thì giao cho chính quyền địa phương quản lý, nơi thì các đơn vị quân đội hoặc lực lượng khác).

Di tích lịch sử quân sự của các đơn vị quân đội cũng có đơn vị quan tâm đầu tư, phối hợp với địa phương để thực hiện việc bảo tồn, tôn tạo (Di tích Rừng Trần Hưng Đạo được Bộ Quốc phòng đầu tư trên trăm tỷ làm đường dẫn vào và tôn tạo một số hạng mục. Các di tích ở Định Hóa, Tân Trào được các ban ngành hỗ trợ nên di tích được tôn tạo, phát huy giá trị tốt nhưng nhiều di tích khác không được quan tâm nên xuống cấp nghiêm trọng).

III. Một số giải pháp nâng cao chất lượng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử quân sự

1. Tăng cường tuyên truyền về giá trị di tích lịch sử quân sự cho nhân dân địa phương để thấy được vai trò, vị trí của nó. Trên cơ sở đó, vận động sự quan tâm thích đáng của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương.

2. Trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử quân sự nhất thiết phải có tư vấn quân sự thì việc trùng tu, tôn tạo mới có hiệu quả (bảo đảm tính nguyên gốc và phục hồi sát với thực tế).

3. Các bảo tàng quân đội ở các khu vực phải tham gia tốt vào việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử quân sự theo khả năng và phạm vi phụ trách của mình (tư vấn lập hồ sơ di tích, tư vấn bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử quân sự).

4. Phải huy động được mọi nguồn lực vào việc phục hồi, tôn tạo di tích (di tích Rừng Trần Hưng Đạo, di tích ở Quảng Trị huy động được nguồn lực xã hội đã được tôn tạo, phát huy tốt, nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã góp phần không nhỏ vào bảo tồn, tôn tạo di tích).

Các thế hệ ông cha đã để lại cho chúng ta ngày nay một kho tàng di sản văn hóa lịch sử quân sự hết sức phong phú và đồ sộ. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích lịch sử quân sự, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau đặc biệt là cho thế hệ trẻ của chúng ta hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập. Bên cạnh những yếu tố khách quan thì cũng còn rất nhiều yếu tố mang tính chủ quan làm ảnh hưởng đến những di tích lịch sử quân sự và làm cho chúng ngày càng mai một. Để phát huy giá trị di tích lịch sử quân sự, các cấp, các ngành cần quan tâm nhiều hơn đến việc bảo tồn, tôn tạo các di tích./.


[1] Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


Nguồn: Thiếu tướng, TS Nguyễn Xuân Năng[1]
26-11-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s