Bảo quản phim, ảnh tư liệu lịch sử tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam


04-08-2018
Phim, ảnh tư liệu lịch sử là hiện vật không thể thiếu trong bảo tàng. Có những hình ảnh chỉ các bảo tàng loại hình lịch sử quân sự mới có đầy đủ bản quyền để lưu hành và phát huy giá trị trong xã hội. Để gìn giữ và bảo tồn số hiện vật này một cách lâu dài, cần có một phương pháp và quy trình khoa học, hiệu quả.

Phim, ảnh tư liệu lịch sử thường phản ánh những “khoảnh khắc” có thực trước ống kính, được coi là bằng chứng cho thấy rõ đối tượng, một sự kiện hiện tượng nào đó đã tồn tại và hiện diện vào thời điểm ống kính thu nhận được. Đó là những chứng cứ lịch sử xác đáng cần được lưu giữ để truyền lại cho thế hệ mai sau. Ngay từ năm 1980, trong công bố khuyến cáo về vấn đề lưu giữ và bảo tồn phim ảnh, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã xác định: “Tài liệu phim, ảnh là loại hình di sản đặc biệt quý giá không những của mỗi dân tộc mà của cả nhân loại, mỗi quốc gia cần phải đầu tư, tổ chức bảo tồn thật tốt cho các thế hệ mai sau.[1]

Phim ảnh, tư liệu lịch sử tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Nhiếp ảnh Việt Nam ra đời cách đây hơn 150 năm. Dấu mốc đó là ngày 14/3/1869, cụ Đặng Huy Trứ khai trương hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường ở phố Thanh Hà (Hà Nội)[2]. Đối với mỗi bảo tàng, loại hình hiện vật này đóng vai trò rất quan trọng giúp người xem có cái nhìn tổng quát cũng như những kiến thức lịch sử, văn hóa và nghệ thuật mà bảo tàng đó thiết lập.

Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đang quản lý gần 14 vạn hiện vật gồm nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau. Trong đó, số hiện vật phim, ảnh tư liệu lịch sử là 13.850 phim, chiếm 10% tổng số hiện vật.[3]


Tủ chứa hiện vật phim, ảnh tư liệu trước đây và bây giờ - Ảnh BTLSQSVN.

Các hiện vật này được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, tựu chung lại từ những nguồn chính như: Báo Quân đội nhân dân, Điện ảnh Quân đội hoặc nguồn tư liệu của bảo tàng. Trong đó có các hình ảnh đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại của Quân đội và đất nước như: Ảnh đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc diễn văn thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ở khu rừng Trần Hưng Đạo, ngày 22/12/1944 của nghệ sĩ Vũ Năng An; Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Đại đoàn Quân tiên phong tại Đền Giếng (Đền Hùng), năm 1954 của nghệ sỹ Đinh Đăng Định; Ảnh nữ dân quân Hà Thị Nhiên kéo xác máy bay F-4 của Mỹ trên bờ biển Hải Thịnh (Nam Định) năm 1967 của Quang Sáng; Sê-ri ảnh chiến dịch Quảng trị năm 1972 của phóng viên Đoàn Công Tính; Ảnh xe tăng số hiệu 843 và 390 húc cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 của phóng viên hãng AFP (người Pháp) bà Phờ-răng-xoa Đờ-muyn đơ và hàng nghìn hiện vật phim, ảnh tư liệu có gía trị khác nhau.

Phát huy giá trị hiện vật phim, ảnh tư liệu lịch sử, hằng năm cán bộ kiểm kê của Bảo tàng LSQS Việt Nam đã phục vụ nhiều lượt khách là những nhà làm phim, nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên, sinh viên, học sinh tìm hiểu, giảng dạy môn lịch sử… Gần đây nhất là Ban tổ chức chương trình “Giai điệu tự hào” của Đài truyền hình Việt Nam đến nghiên cứu, khai thác phim, ảnh tư liệu lịch sử phục vụ cho sản xuất chương trình.

Bảo quản phim, ảnh tư liệu lịch sử

Nhằm bảo tồn và ngăn chặn sự hư hại, xuống cấp theo thời gian của những bức ảnh có giá trị nói trên, trong những năm qua, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam luôn trú trọng quan tâm đầu tư trang thiết bị cho công tác bảo quản phòng ngừa. Năm 2002, kho phim, ảnh đã được lắp đặt máy điều hoà, máy hút ẩm, đồng hồ đo nhiệt độ, độ ẩm để kiểm soát và làm giảm thiểu sự hư hại xuống cấp đối với phim, ảnh tư liệu.


Bảo quản phim tư liệu
- Ảnh BTLSQSVN.

Để công tác bảo quản ngày càng đi vào chiều sâu nghiệp vụ, đến năm 2014, các tủ ngăn kéo thông thường đựng phim, ảnh trước kia nay đã được thay bằng tủ chống ẩm (hay còn gọi là tủ khí khô) chuyên dùng cho việc bảo quản, lưu giữ phim hoặc máy ảnh. Bên trong tủ có bộ phận hút ẩm, đèn báo trạng thái hoạt động, cụm đồng hồ hiện nhiệt độ và độ ẩm cho phép cài đặt điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm theo môi trường lý tưởng dành cho bảo quản phim, ảnh, băng đĩa, nhiệt độ từ 8 – 100C, độ ẩm từ 30 – 35%[4]. Nhờ vậy, đã duy trì và kéo dài được “tuổi thọ” của hàng nghìn hiện vật phim, ảnh tư liệu lịch sử.

Tuy nhiên, chất liệu hình thành của phim, ảnh thuộc vật liệu hữu cơ, có công nghệ chế tác đặc thù rất mỏng, dễ phản ứng với môi trường bên ngoài như thiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và tạp chất mà tự phân huỷ. Vì vậy, ngoài việc áp dụng các biện pháp bảo quản phòng ngừa thường xuyên liên tục như trên, cán bộ bảo tàng thường xuyên kiểm tra, theo dõi định kỳ nghiêm ngặt theo quy trình bảo quản hiện vật bảo tàng. Hàng năm, thông qua rà soát, kiểm tra kho phim, toàn bộ số phim gốc trong kho đã được bảo tồn và phát huy tốt giá trị trong xã hội.

Song gần đây, đối với vài chục phim dự trữ (là bản sao của phim dương bản), xuất hiện một số triệu chứng như: Hội chứng mốc chiếm (25% - 30%) do các vi sinh lấy Gelatin làm môi trường phát triển dưới tác động của nhiệt độ và độ ẩm xuất hiện nấm mốc ăn sâu vào lớp ảnh tạo thành các chấm trắng đọng trên mặt phim. Mặt khác, do đế phim hút ẩm và xuất hiện quá trình thủy phân tạo axit axetíc, lâu dài sẽ dẫn đến chuyển dạng cong, vàng, dính phim... Để khắc phục tình trạng này và tránh lây lan sang lượng phim gốc trong kho, cán bộ bảo quản đã cách ly số phim có triệu chứng trên và tiến hành bảo quản trị liệu với quy trình và kỹ thuật chuyên sâu.


Công tác bảo quản được tiến hành song song với kiểm kê hiện vật - Ảnh BTLSQSVN.

Từ tháng 1/2018 đến tháng 4/2018, bảo tàng đã phối hợp một số chuyên gia bảo quản phim đầu ngành tiến hành khảo sát những phim dự trữ có hiện tượng nấm, mốc xét nghiệm, phân tích mẫu. Từ kết quả này, hai bên đã thống nhất quy trình bảo quản trị liệu nhằm khắc phục triệt để và ngăn chặn toàn nấm mốc, cong vênh của phim, ảnh.

Cũng trong quá trình bảo quản những túi đựng phim bằng giấy can cũ lâu ngày không đủ điều kiện bảo quản cũng được thay bằng giấy free axit để đáp ứng công tác bảo quản phim, ảnh được lâu dài hơn. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm kê được tiến hành song song bằng cách đối chiếu với sổ đăng ký phim, ảnh, kiểm tra đánh số lại số phim đối với phim đã bị mờ ố theo thời gian đảm bảo cho công tác bảo quản và quản lý hiện vật phim, ảnh được tốt nhất.

Tránh tiếp xúc trực tiếp với phim, ảnh tư liệu gây tổn hại, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý và tra cứu thông tin phim, ảnh để lưu giữ thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, khoa học và hiệu quả bằng phần mềm “Quản lý tra cứu phim, ảnh tư liệu lịch sử”.


Mẫu phiếu ảnh trước và sau khi số hóa bằng phần mềm “Quản lý tra cứu phim, ảnh tư liệu lịch sử”- Ảnh BTLSQSVN

Phần mềm cho phép scan ảnh trực tiếp giúp nhà quản lý, khai thác có thể nhận biết được những thông tin như: Số lượng phim, ảnh gốc? Tác giả? Thời gian chụp? Thông tin sự kiện, bối cảnh của bức hình. Ngoài ra, nó có thể thống kê và trích xuất dữ liệu tiện lợi cho việc khai thác, tra cứu hay thống kê, in các báo cáo biến động số lượng phim, ảnh theo tháng, quý, năm… Việc làm này đã hạn chế tối đa được sự tiếp xúc trực tiếp của con người với phim, ảnh giúp loại hình hiện vật đặc biệt này được lưu giữ cố định an toàn trong kho với một chế độ khoa học hơn.

Phim, ảnh tư liệu lịch sử là loại hình hiện vật quan trọng đối với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trong việc tuyên truyền và phát huy giá trị lịch sử quân sự tới nhân dân và bạn bè quốc tế, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tồn loại hình hiện vật này là việc làm vô cùng quan trọng để ngăn ngừa sự xuống cấp và kéo dài “tuổi thọ” của hiện vật, giúp các thế hệ tiếp theo có thể sử dụng triệt để những giá trị to lớn mà bản thân tài liệu phim, ảnh chứa đựng, từ đó tạo ra những nét đặc sắc riêng trên mặt trận văn hóa góp phần vào xây dựng nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc./.


[1] 5 Phim ảnh và hoạt động bảo tồn phim – Báo cáo khoa học, Ngô Hiểu Chi. H 2002, tr 145.

[2] Lê Vũ Trường Giang: Văn hóa nhiếp ảnh đất Cố đô, Vannghehue.vn (website của Liên hiệp hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế), ngày 4/4/2017.

[3] Báo cáo Tổng kết 6 tháng đầu năm 2018 của Bảo tàng LSQS Việt Nam.

[4] Sách bảo quản hiện vật bảo tàng – TS Nguyễn Thị Minh Lý (chủ biên), tr 107.


Nguồn: Hoàng Trung Hiếu
04-08-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s