Ải Chi Lăng – Những dấu ấn quân sự tiêu biểu


18-03-2019
Chi Lăng là một ải thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Ải được cấu thành từ một thung lũng hẹp giữa hai dãy núi Bảo Đài ở phía Đông và Cai Kinh ở phía Tây. Dọc theo thung lũng là con sông Thương chảy ngoằn ngoèo bên những ngọn núi thấp như Kỳ Lân, Mã Yên, Hàm Quỷ, Phượng Hoàng,… Hai đầu thung lũng – nơi hai dãy núi phía Đông và phía Tây khép lại gần nhau thành lũy Ải Quỷ ở phía Bắc và núi Ngõ Thề ở phía Nam tạo thành một địa thế rất hiểm yếu. Vua Lê Đại Hành đã đánh giá địa thế của ải Chi Lăng “Giặc vào như bè xuôi thác, giặc ra như cá mắc hom”. Với địa thế này, ải Chi Lăng được coi là bức tường thành vững chắc từ xa bảo vệ kinh thành Thăng Long, chặn đứng các cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang phương Bắc. Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rõ điều này.

Theo tác phẩm Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, vào năm 981, dưới thời nhà Tống, vua Tống đưa quân xâm lược nước ta bằng cả hai đường thủy, bộ. Đường thủy theo sông Bạch Đằng do Lưu Trừng cầm đầu. Đường bộ do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đánh qua đường Lạng Sơn. “Vua Đại Hành đem binh thuyền ra chống giữ ở Bạch Đằng. Quân nhà Tống tiến lên thế mạnh lắm, quan quân đánh không lại phải lùi. Bấy giờ lục quân của bọn Hầu Nhân Bảo tiến sang đến Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn), vua Đại Hành sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm bắt chém đi, rồi đuổi đánh quân nhà Tống chém giết được quá nửa, và bắt được hai người bộ tướng. Bọn Lưu Trừng thấy lục quân đã tan vỡ, vội vàng đem thủy quân rút về”.[1]

Năm 1077, vua Tống lại sai Quách Quỳ và Triệu Tiết dẫn 10 vạn quân tinh nhuệ xâm lược nước ta một lần nữa. Lực lượng chủ yếu của quân Tống trong cuộc xâm lược lần này là bộ binh và kỵ binh. Chúng chia làm nhiều mũi theo nhiều đường qua vùng Đông Bắc tiến vào nước ta. Mũi quan trọng chúng vẫn theo đường ải Nam Quan qua Lạng Sơn để tấn công Đại Việt. Mũi này, chúng không thể không qua ải Chi Lăng. Nắm rõ ý đồ của địch, Thái úy Lý Thường Kiệt giao cho các tù trưởng chỉ huy những đội quân người dân tộc (lúc đó gọi là quân Thượng du) lợi dụng địa hình địa vật đón đánh địch. Tại khu vực ải Chi Lăng, Phò mã Thân Cảnh Phúc bố trí trận địa mai phục dựa vào các vách đá, lùm cây, bờ sông để chặn địch. Lợi hại nhất là những đội phục binh ở đèo Quyết Lý và ải Giáp Khẩu. Tuy không tiêu diệt được toàn bộ đạo quân nhà Tống do lực chúng quá mạnh, nhưng cuộc chiến đấu tại đây đã làm chậm bước tiến của chúng giúp nhà Lý có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng và thế trận đánh địch giành thắng lợi tại phòng tuyến sông Như Nguyệt sau đó, đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống. Triệu Tiết phải thừa nhận “Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc ở động Giáp đều cầm cường binh”. [2]

Thế kỷ thứ XIII, nước ta lại phải đương đầu với một đế quốc mới hình thành, đó là quân Mông Cổ. Đế quốc Mông Cổ nổi tiếng với tài cưỡi ngựa, bắn cung đã chinh phục nhiều nước ở châu Á, châu Âu. Năm 1271, sau khi tấn công tiêu diệt nhà Tống ở Trung Quốc, Thủ lĩnh nhà Mông là Hốt Tất Liệt đổi quốc hiệu nhà Mông thành nhà Nguyên. Quân Mông – Nguyên đã ba lần xâm lược nước ta và đều thất bại: Lần thứ nhất vào năm 1258; Lần thứ hai vào năm 1285; Lần thứ ba vào năm 1287 – 1288.

Trong cuộc xâm lược lần thứ hai vào năm 1285, quân Nguyên chia 3 cánh do Thái tử Thoát Hoan làm tổng chỉ huy đánh vào nước ta. Đạo quân chủ lực do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn vào. Cánh thứ hai do Nạp Tốc Lạt Đinh từ Vân Nam tiến theo lưu vực sông Chảy vào Tuyên Quang. Cánh thứ ba do Toa Đô chỉ huy từ Chămpa ở phía Nam đánh ngược ra vùng Nghệ An, Thanh Hóa tạo gọng kìm tấn công Đại Việt từ phía sau lưng.

Nhận định cánh quân chủ lực từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn vào kiểu gì chúng cũng phải qua ải Chi Lăng, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với tư duy quân sự sắc sảo đã tổ chức khảo sát và lập trận đồ để đánh phủ đầu quân giặc tại đây. Ông đánh giá: Quân Nguyên mạnh nhất là kỵ binh, đặc biệt là ngựa chiến. Vì vậy ông đã cho đào hàng ngàn hố bẫy ngựa tại khu vực ải Chi Lăng. Các hố “bẫy ngựa” trên phủ lá ngụy trang để địch không phát hiện ra, bên trong hố có “hàm ếch” cho lính mai phục cầm sẵn mã tấu cực sắc. Khi ngựa sụt hố, lập tức chặt đứt chân ngựa và độn thổ chiến đấu tiêu diệt quân Nguyên. Ngoài hố bẫy ngựa, xung quanh khu vực mai phục, trên các vách núi, quân ta còn bố trí các bẫy đá. Khi quân Nguyên lọt vào ổ phục kích các bẫy đá dội đá từ núi xuống kết hợp lao phóng ngang sườn, tên bắn từ các lùm cây vào làm quân địch không sao chống đỡ nổi. Chính tại đây, tướng nhà Nguyên là Nghê Nhuận đã bị giết.

Một lần nữa, ải Chi Lăng ghi thêm một dấu mốc trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam với nghệ thuật tác chiến rất độc đáo.

Dấu ấn tiêu biểu nhất ở khu vực ải Chi Lăng là trận Chi Lăng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh vào thế kỷ XV. Đây là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.


Hình ảnh về ải Chi Lăng (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn) được giới thiệu tại Bảo tàng LSQS Việt Nam. Ảnh BTLSQSVN

Năm 1406, mượn cớ “phù Trần, diệt Hồ”, nhà Minh đưa quân xâm lược nước ta. Triều đình nhà Hồ tổ chức kháng chiến chống quân Minh nhưng thất bại. Nước ta chịu ách đô hộ nhà Minh từ năm 1407. Năm 1418, khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng nổ ra, sau đó phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống lại ách đô hộ nhà Minh. Đến năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã làm tan rã chính quyền đô hộ nhà Minh ở nhiều nơi, trực tiếp uy hiếp quân Minh ở Đông Quan (Thăng Long – Hà Nội). Tháng 10/1426, vua Minh cử Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu viện. Lực lượng này cùng lực lượng ở Đông Quan mở cuộc tiến công vào quân khởi nghĩa nhằm cứu vãn tình thế. Song chúng lại bị đại bại ở Tốt Động – Chúc Động (tháng 11/1426), buộc phải chuyển sang thế phòng ngự bị động. Thành Đông Quan bị uy hiếp. Trước tình hình đó, tháng 01/1427, nhà Minh quyết định tăng cường viện binh sang cứu nguy. Lần này chúng sử dụng tới 15 vạn quân chia làm hai mũi. Mũi thứ nhất với 10 vạn quân do Liễu Thăng chỉ huy từ Quảng Tây sang theo đường Lạng Sơn tiến xuống. Mũi thứ hai với 5 vạn quân do Mộc Thạnh cầm đầu từ Vân Nam đi qua Hà Giang, Tuyên Quang tiến vào.

Xác định hướng tiến công chính là đánh đạo quân do Liễu Thăng chỉ huy từ Lạng Sơn vào, Lê Lợi đã bố trí lực lượng và chuẩn bị sẵn thế trận đánh địch từ Pha Lũy đến Xương Giang, trong đó, ải Chi Lăng – cửa ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Lũy (Mục Nam Quan) đến Đông Quan (Thăng Long) là mấu chốt. Tại đây, ta bố trí trận địa phục kích với thế trận “phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong”. Để thực hiện trận phục kích này, Lê Lợi chỉ đạo tổ chức những trận đánh nhử địch từ cửa ải Pha Lũy. Tướng Trần Lựu theo kế hoạch đã xác định, vừa đánh vừa giả thua rút về Khâu Ôn. Liễu Thăng đuổi theo chiếm lấy Khâu Ôn. Trần Lựu lại lui về giữ ải Lưu. Địch lại tiến đánh ải Lưu. Trần Lựu rút tiếp về ải Chi Lăng.

Ải Chi Lăng với vị địa thế hiểm yếu của nó đã nhiều lần là mồ chôn quân giặc ngoại xâm từ phương Bắc xuống. Chính quân Minh sau khi chiếm được nước ta cũng đã coi Chi Lăng là “cổ họng Giao Chỉ”, là “nơi hiểm yếu đại quân ra vào”. Vì vậy, chúng đã xây dựng nhiều thành lũy để trấn giữ ải này và khống chế con đường huyết mạch nối Quảng Tây với Đông Quan.

Với những bài học nhãn tiền trước đó nên sau khi chiếm được ải Lưu, Liễu Thăng muốn thừa thắng đánh chiếm ải Chi Lăng đã có tướng nhà Minh tỏ ra lo ngại khuyên Liễu Thăng thận trọng. Tham tán quân vụ Lý Khánh cũng can giám Liễu Thăng không nên khinh địch. Nhưng với bản tính kiêu ngạo lại bị kích động bởi những lá thư Nguyễn Trãi gửi cho. Hơn nữa, từ Pha Lũy đến ải Lưu, trên đường tiến quân, Liễu Thăng chưa gặp trở ngại nào nên hắn rất chủ quan hạ lệnh tiếp tục tiến quân.

Ngày 10/10/1427 (tức ngày 20/9 năm Đinh Mùi), Liễu Thăng đích thân chỉ huy hơn 100 binh mã xông lên trước đội quân tiên phong mở đường tiến vào Chi Lăng. Tướng Trần Lựu lại đem quân ra đánh rồi lại “giả thua rút chạy”. Liễu Thăng lập tức đuổi theo. Đến núi Mã Yên – một ngọn núi đá vôi nằm ở phía Nam ải Chi Lăng, dưới chân núi là cánh đồng lầy lội có cầu bắc qua đường quốc lộ, Liễu Thăng và hơn 100 kỵ binh vừa qua cầu thì cầu bị sập. Đội hình địch bị chia cắt. Đúng lúc đó lực lượng phục kích của ta bất ngờ xông lên tiêu diệt quân địch. Đội kỵ binh bị diệt gọn. Liễu Thăng bị trúng lao chết trên sườn núi. Tin chủ soái bị diệt làm quân địch càng thêm hoảng loạn. Quân ta dưới sự chỉ huy của các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Trần Lựu thừa thắng chia cắt đội hình địch ra tiêu diệt một bộ phận sinh lực tinh nhuệ nhất của chúng, tạo tiền đề cho trận Xương Giang giành thắng lợi quyết định.

Chiến thắng Chi Lăng là chiến công lớn của quân dân Đại Việt trong kháng chiến chống quân Minh. Nó là “một đòn sấm sét gây chấn động mãnh liệt đối với toàn quân địch. Hệ thống chỉ huy đảo lộn, kế hoạch tác chiến bị xáo trộn, quân địch tuy còn đông về số lượng nhưng hàng ngũ nổi loạn, tinh thần hoang mang”.[3]

Với quân dân Đại Việt, chiến thắng Chi Lăng là chiến công đầu đánh quân tiếp viện nhà Minh trên hướng Lạng Sơn. Nó cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm tăng quyết tâm và niềm tin để quân ta giành những thắng lợi liên tiếp sau đó ở Cần Trạm, Phố Cát, Xương Giang, đập tan nỗ lực cao nhất của quân Minh, buộc Vương Thông ở thành Đông Quan phải đầu hàng, triều đình nhà Minh phải từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta.

Sau kháng chiến chống Minh, vào năm 1788, mượn cớ vua Lê Chiêu Thống chống Tây Sơn, nhà Thanh cử Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân xâm lược nước ta. Chúng chia làm 4 đạo tiến sang Đại Việt.

- Đạo thứ nhất do Tôn Sĩ Nghị trực tiếp chỉ huy đi theo đường Lạng Sơn.

- Đạo thứ hai do Sầm Nghi Đống chỉ huy đi theo đường Cao Bằng.

- Đạo thứ ba do Đề đốc Ô Đại Kinh chỉ huy đi theo đường Tuyên Quang.

- Đạo thứ tư đi theo hướng Quảng Ninh tiến vào Hải Dương.

Dưới sự chỉ huy của Quang Trung – Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự, quân và dân ta đã đánh tan quân xâm lược nhà Thanh, buộc chúng phải rút chạy về nước. Chi Lăng một lần nữa góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng vang dội này.

Thế kỷ XIX, XX, ải Chi Lăng lại chứng kiến những chiến công đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do cho dân tộc.

Đến đây, có thể khẳng định, trong suốt chiều dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ải Chi Lăng đã tạo nên những dấu ấn quân sự rất đáng tự hào. Nó đã từng nhiều phen làm kẻ thù xâm lược phải “kinh hồn, bạt vía”.

Slô-vắc-xốc – nhà dân tộc học nổi tiếng của Tiệp Khắc đã đánh giá: “Có lẽ đây là chiến lũy hành lang độc đáo nhất trên thế giới, nó thể hiện đầu óc thông minh và tài trí quân sự tuyệt vời của một dân tộc luôn phải chống trả với một đội quân xâm lược mạnh hơn mình gấp trăm lần trong quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước. Thể hiện tầm nhìn chiến lược nổi tiếng “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh””.[4]


Mô hình phục dựng trận phục kích tại Chi Lăng năm 1427 trong không gian trưng bày về cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) tại Bảo tàng LSQS Việt Nam. Ảnh BTLSQSVN.

Từ những dấu ấn quân sự tiêu biểu của Chi Lăng như đã nêu có thể khái quát:

1. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc ta thường xuyên phải đương đầu với các thế lực ngoại bang hùng mạnh xâm lược nước ta. Trong khoảng 22 thế kỷ (từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ XX), có tới 12 thế kỷ dân tộc ta phải kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống ách đô hộ ngoại bang. Đáng chú ý là “độ dài thời gian, tần số xuất hiện và số lượng các cuộc kháng chiến giữ nước, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng ở Việt Nam quá lớn so với nhiều nước khác trên thế giới”.[5] Đặc biệt với các thế lực phong kiến phương Bắc, hầu như, triều đại nào dân tộc ta cũng phải đương đầu (từ Hán, Tần, Triệu, Lương, Tùy, Đường, Tống, Mông – Nguyên, Minh, Thanh,…). Chính điều này đã tạo nên truyền thống quân sự rất vẻ vang của dân tộc ta.

2. Trong các cuộc xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc, chúng đều sử dụng một lực lượng lớn (hàng chục vạn quân) và tiến đánh theo nhiều mũi, nhiều hướng cả đường thủy và đường bộ. Theo đường bộ, con đường mà chúng sử dụng nhiều nhất và thường là hướng chính, là mũi chủ lực, đó là đường qua Lạng Sơn. Điều này cũng dễ hiểu vì đây chính là con đường ngắn nhất (chỉ 150km) từ biên giới đến Kinh thành (Đông Đô, Thăng Long) và cũng thuận lợi nhất (đường ít đèo, dốc hơn so với Cao Bằng, Quảng Ninh hay Hà Giang, Tuyên Quang).

Tiến quân theo đường này, khó khăn lớn nhất của quân xâm lược là qua ải Chi Lăng (vì địa thế hiểm trở, bất lợi cho chúng như đã nêu ở trên). Tại đây có Quỷ môn quan được mệnh danh là cửa tử “thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (Mười kẻ đi qua chỉ có một kẻ quay về được). Bởi vậy, ải Chi Lăng từng chứng kiến nhiều đạo quân phương Bắc với những tên tướng tài ba phải bỏ xác lại đây, hoặc tiến tiếp thì cũng không có đường về. Lịch sử chưa ghi chép hết nhưng chúng tôi tin thực tế cuộc chiến diễn ra tại đây còn oanh liệt hơn những điều chúng ta biết.

3. Đa phần những trận đánh diễn ta tại ải Chi Lăng là những trận phục kích. Song không phải trận nào cũng như trận nào mà mỗi trận có những sáng tạo độc đáo riêng tùy theo đối thủ mà quân ta phải đương đầu, tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng như mục tiêu mỗi trận đánh đặt ra. Chẳng hạn, với quân Tống, lực lượng chúng quá mạnh, vua Lê Đại Hành sai người trá hình rồi dụ tướng Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm bắt và chém đầu. Quân Tống như rắn mất đầu hoang mang, quân ta thừa cơ tiến đánh làm địch tan tác.

Với quân Nguyên – thế mạnh của chúng là kỵ binh. Vì vậy, Trần Hưng Đạo tổ chức trận địa với các hố bẫy ngựa làm quân địch không phát huy được thế mạnh của mình. Ngựa bị chặt chân, quân địch không thể cơ động nhanh được. Quân ta kết hợp sử dụng bẫy đá, phóng lao tiêu diệt chúng.

Đối với quân Minh – thế giặc cũng rất mạnh, tướng Trần Lựu đem quân ra nhử “giả thua” tới ba lần để dẫn địch vào nơi ta đã tổ chức trận địa phục kích để tiêu diệt.

Vậy là Chi Lăng đã thể hiện nghệ thuật quân sự Việt Nam hết sức đặc sắc và sáng tạo. Đây cũng là điểm nổi bật tạo điểm nhấn về quân sự của Chi Lăng.

Từ kết quả nghiên cứu bước đầu như đã nêu, với giá trị đặc biệt của ải Chi Lăng – nhất là những dấu ấn về mặt quân sự, chúng tôi đề nghị tỉnh Lạng Sơn cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa để phục hồi, tôn tạo di tích này cho xứng tầm với giá trị đích thực của nó nhằm tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho các thế hệ./.


[1] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Tập 1, NXB Kim Đồng, H. 2016, Tr 126.

[2] Diệp Như Anh, Những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, NXB Lao động, H. 2008, Tr 2.3

[3] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, H.2013, tr204.

[4] Quê Việt – Công thông tin điện tử người Việt Nam tại Ba Lan, ngày 22/4/2009.

[5] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.1999, tr232.


Nguồn: Thiếu tướng, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Năng - nguyên Giám đốc Bảo tàng LSQS Việt Nam, Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia.
18-03-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s