Chuyện thần tốc giải phóng đảo Song Tử Tây


03-04-2019
Hướng tới kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019), Đài truyền hình Hải Phòng đã mời Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Quế đến Bảo tàng Hải quân để quay phim về trận chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên Quần đảo Trường Sa năm 1975. Nhân dịp này, ông đã kể lại trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây thuộc Quần đảo Trường Sa lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 14/4/1975.

Đại tá, AHLLVTND Nguyễn Ngọc Quế, sinh năm 1950, nhập ngũ năm 1968, nguyên đội trưởng Đội 1, Đoàn 126 Đặc công Hải quân. Từ năm 1968 đến năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Quế chiến đấu ở các chiến trường cửa biển: Cửa Việt, Mỹ Thuỷ, Thuận An… Đặc biệt đã chỉ huy và cùng đơn vị chiến đấu giải phóng Quần đảo Trường Sa năm 1975. Ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 6/11/1978. Nhìn ngắm những hiện vật về của Bộ đội Hải quân năm xưa, nhất là khẩu súng ĐKZ mở màn trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa ngày 14/4/1975, ông bồi hồi kể lại:


Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Quế. Ảnh tư liệu BTHQ.

Đó là vào những ngày tháng hào hùng của dân tộc, cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975 sau những đòn tiến công như vũ bão của quân và dân ta, hệ thống phòng ngự của địch bị phá vỡ, chúng hoang mang dao động cực độ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, chúng vẫn cố thu gom bọn tàn quân và các lực lượng còn lại hình thành co cụm lớn để phòng thủ các tỉnh ven biển và các đảo. Bộ Chính trị họp, nhận định: Thời cơ chiến lược để tiến hành tiến công và nổi dậy vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất. Ngày 14/4, chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh. Cả nước dốc sức cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch còn lại.

Nhiệm vụ cụ thể của Quân chủng Hải quân được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị: “Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhanh nhất, đánh các đảo do quân nguỵ miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng”.


Khẩu ĐKZ bắn mở màn trận giải phóng đảo Song Tử Tây ngày 14/4 được trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Ảnh BTHQ.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu “Tranh thủ thời cơ có lợi đánh quần đảo Trường Sa, một quần đảo có ý nghĩa chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế để góp phần giải phóng hoàn toàn đất nước”. Với tư tưởng chỉ đạo: khẩn trương, tích cực, chủ động, kiên trì, dũng cảm, mưu trí sáng tạo, đánh chắc thắng; Bộ Tư lệnh Hải quân hạ quyết tâm tập trung sự nổ lực của toàn Quân chủng, sử dụng tàu thuyền và lực lượng đổ bộ, khắc phục mọi khó khăn giải phóng các đảo. Ngày 11/4/1975, kế hoạch tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa được mở đầu bằng trận tấn công giải phóng đảo Song Tử Tây.

Nhiệm vụ giải phóng đảo rất khẩn trương, Bộ Tư lệnh Hải quân giao cho đồng chí Hoàng Hữu Thái, Phó Tư lệnh quân chủng phục trách. Tham gia ở Sở chỉ huy có đồng chí Trần Phong, Tham mưu phó Đoàn 125. Để tiến công giải phóng đảo Song Tử Tây, Quân chủng Hải quân sử dụng 3 tàu vận tải quân sự của Đoàn 125 là: tàu T673 (do đồng chí Nguyễn Xuân Thơm làm Thuyền trưởng), tàu T674 (do đồng chí Nguyễn Văn Đức làm Thuyền trưởng), tàu T675 (do đồng chí Phạm Duy Tam làm Thuyền trưởng) và lực lượng đổ bộ là Đội 1, Đoàn 126 Đặc công. Ban chỉ huy gồm đồng chí Mai Năng, Chỉ huy trưởng đi trên tàu T174 và đồng chí Dương Tấn Kịch Chỉ huy phó. Ngày 10/4, Phân đội tàu được lệnh cấp tốc hành quân từ Hải Phòng vào Đà Nẵng. 21 giờ cùng ngày tàu cập bến Đà Nẵng khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để hành quân đánh địch.


Bộ đội Hải quân trên đảo Song Tử Tây sau ngày giải phóng. Ảnh tư liệu BTHQ.

Đúng 4 giờ sáng ngày 11/4, lực lượng giải phóng đảo rời quân cảng Đà Nẵng ra khơi. Thật khó diễn tả được hết tình cảm đặc biệt của cán bộ, chiến sĩ hai đơn vị anh hùng trong quân chủng lần đầu tiên phối hợp hiệp đồng với nhau trong một trận đánh có ý nghĩa như thế này. Song Tử Tây là một trong những đảo nổi của quần đảo Trường Sa, cách Đà Nẵng khoảng gần 470 hải lý, là một trong 5 đảo do quân nguỵ Sài Gòn chiếm đóng. Độ cao trung bình của đảo so với mặt nước biển là 3m và chỗ cao nhất là 5,8m, có chiều dài 630m, rộng 270m. Thời tiết khu vực quần đảo Trường Sa nói chung và đảo Song Tử Tây nói riêng gần giống thời tiết trong đất liền ở miền Nam nhưng khắc nghiệt hơn. Chỉ huy đoàn xác định đây là một trận chiến đấu gay go, ác liệt vì chưa có tiền lệ bộ đội Đặc công hải quân ta đánh đảo. Vấn đề địch trên đảo từ quân số, trang bị, bố trí trên đảo ta không có thông tin gì, lực lượng ta phân tán ở 3 tàu, khi hành quân cách nhau từ 500 đến 1000m, tàu của ta phải giả dạng tàu đánh cá nước ngoài.

Sau gần 3 ngày đêm vật lộn với sóng gió, 10 giờ ngày 11 và cả ngày 12/4/1975 khi tàu ta đến vùng biển quốc tế thì gặp 3 tàu của Hạm đội Mỹ đang ở ngoài khơi. Khi thấy 3 tàu ta cùng đi một hướng, địch cho tàu áp sát, dùng máy bay phản lực và máy bay trực thăng kiểm tra, thấy các thuỷ thủ trên tàu mặc quần áo kiểu dân đánh cá của Hồng Kông và trên tàu có lưới phơi… Toàn bộ lực lượng ta đều nằm ở dưới khoang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí Mai Năng lệnh cho tàu đổi hướng đi về phía Hồng Kông. Đến tối ngày 12 các tàu của Hạm đội 7 Mỹ mới thôi không theo nữa, các tàu của ta lại theo hướng ra đảo Song Tử Tây.


Cột mốc đảo Song Tử Tây. Ảnh BTHQ.

Đến 17 giờ ngày 13/4/1975, ba tàu của ta đến gần đảo Song Tử Tây. Đồng chí Mai Năng lệnh cho tàu 673 vòng sát đảo để trinh sát, sau đó các tàu của ta chuyển ra xa để làm công tác chuẩn bị. Tàu 673 chở phân đội 1 do Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy đánh đảo trực tiếp (là mũi hoả lực). Tàu 674 chở phân đội 2 do đồng chí Đỗ Viết Cường, Đội phó chỉ huy. Tàu 675 chở phân đội 3 do đồng chí Minh ban Tham mưu trung đoàn chỉ huy. Chỉ huy cả trận đánh là đồng chí Mai Năng. 19 giờ ngày 13/4, Tàu 673 chở Đội 1, Đoàn 126 tiếp cận đảo. Hai tàu 674 và 675 vòng ra án ngữ phía bắc, phía nam đảo, sẵn sàng chi viện khi cần thiết. Với kinh nghiệm đi biển, cán bộ tàu 673 khôn khéo điều khiển tàu cơ động ém sát đảo, tìm vị trí có lợi nhất để đổ bộ. Hai giờ sáng ngày 14/4, tàu cách đảo chừng 5km, phân đội chiến đấu bí mật dùng xuồng bơi vào áp sát đảo. Sau hơn hai giờ vật lộn với dòng nước xoáy và những mỏm san hô lởm chởm vây quanh đảo, lực lượng đổ bộ còn tiến ra đảo, chiếm lĩnh các vị trí. Đồng chí Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy giao nhiệm vụ cho các mũi chiến đấu.

4 giờ 30 phút ngày 14/4/1975, lệnh nổ súng bắt đầu bằng phát đạn ĐKZ, các mũi hiệp đồng theo tiếng súng, đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quy định. Ngay sau đó hoả lực các cỡ của quân ta nã tới tấp vào công sự địch. Bị tấn công bất ngờ, địch hoang mang. Ta áp sát chia cắt đội hình, địch bỏ chạy tán loạn ra phía Đông đảo, nhưng bị ta chặn lại. Sau 30 phút chiến đấu, bộ đội ta diệt các vị trí quân địch đồng thời tiếp tục truy lùng và gọi địch đầu hàng. 

5 giờ 15, ta làm chủ hoàn toàn đảo Song Tử Tây, chiến sĩ Lê Xuân Phát kéo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh cột trước bia chủ quyền của Tổ quốc các tàu tiến sát đảo, triển khai lực lượng chốt giữ, phòng thủ đảo.

Chiến công giải phóng đảo Song Tử Tây có nghĩa rất to lớn nhưng đồng thời là khởi đầu một quá trình đầy gian khổ, hi sinh của những người lính biển cùng với cả nước thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Bờ biển ta dài tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”./.


Nguồn: Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân
03-04-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s