Lý Thường Kiệt (1019 – 1105)


02-06-2014
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) vốn họ Ngô, tên Tuấn. Ông là người ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay là Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội).


Năm 17 tuổi  mẹ qua đời. Khi hết tang, ông được Triều đình phong chức Kỵ mã hiệu úy (một chức quan võ nhỏ trong đội quân cưỡi ngựa của triều đình). Năm 23 tuổi, vì có vẻ mặt khôi ngô, vóc người khỏe mạnh cân đối ông được bổ vào ngạch Quân thị (Hoàng môn chi hậu). Vì yêu mến tài năng và đức hạnh của ông, Vua Lý Thái Tổ nhận ông làm con nuôi, từ đó tên ông được đổi thành là Lý Thường Kiệt, hằng ngày giúp việc bên Vua. Thời gian sau ông được thăng lên chức Đô tri Nội thị sảnh. Khi Lý Thánh Tông lên ngôi, ông được phong chức Thái Bảo và được trao cho Tiết việt (cờ tiết và búa phủ Việt - tượng trưng cho quyền thay mặt vua xử lý các công việc ở bên ngoài).

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt làm Nguyên soái, lĩnh ấn tiên phong đem theo 5 vạn quân và vài trăm chiến thuyền đánh Chiêm Thành để dẹp yên biên giới phía Nam, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống và đã giành thắng lợi. Vua ban thưởng công trạng, thăng chức cho Lý Thường Kiệt làm Thái Phó, tước khai Quốc công. Khi đó Lý Thường Kiệt 51 tuổi. Ít lâu sau ông được Triều đình trao chức Thái úy, tổng chỉ huy quân đội.

Đầu năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi  (vua Lý Nhân Tông), Hoàng Thái hậu Thượng Dương và sau đó là Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan buông rèm nghe chính sự. Lý Thường Kiệt cầm giữ binh quyền phò giúp vua nhỏ tuổi. Để lo đối phó với âm mưu xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt tìm cách ổn định tình hình trong nước, củng cố sự đoàn kết trong nội bộ triều đình, ông đề nghị Linh Nhân Thái hậu cho gọi Lý Đạo Thành về trao chức Thái phó, cùng bàn việc giữ nước.

Lúc này, Triều đình nhà Tống ra sức củng cố Ung Châu, các cửa biển Khâm Châu, Liên Châu (Quảng Đông) và các trại biên giới thành những khu căn cứ quân sự,  hậu cần làm bàn đạp tiến công Đại Việt. Biết trước được âm mưu xâm lược từ phương Bắc, Lý Thường Kiệt chủ trương: "Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc". Đó là tư tưởng chiến lược khá độc đáo và sáng tạo "Tiên phát chế nhân" (ra tay trước, chế ngự địch). Ngày 27 tháng 10 năm 1075 ông đem 10 vạn quân chia làm hai đạo đánh sang đất nhà Tống. Đạo quân thứ nhất do phó tướng Tôn Đản chỉ huy, gồm quân của các vùng dân tộc do Thân Cảnh Phúc, Vi Thư An, Hoàng Kim Mãn... dẫn đầu, đánh thẳng vào thành Ung Châu (Nam Ninh - Trung Quốc) theo đường bộ. Đạo quân thứ hai do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, theo đường biển đổ bộ vào Châu Khâm, Châu Liêm (Quảng Đông). Vào đất Tống, ông viết "Phạt Tống lộ bố văn" nói rõ lý do cuộc hành quân của mình là đập tan sự chuẩn bị xâm lược của nhà Tống và giúp nhân dân Hoa Nam (Trung Hoa)thoát khỏi cảnh lầm than do Vương An Thạch cùng triều đình nhà Tống gây ra. Ông cũng ra lệnh cho quân không được động tới "cái kim sợi chỉ" của dân. Nhờ đó, quân ông đi đến đâu, quân Tống bị đánh tan đến đấy. Nhân dân Hoa Nam gọi ông là "cha họ Lý". Quân Việt tiến vào thành Ung Châu và sau một thời gian vây hãm đã hạ được thành. Thấy cuộc hành quân đã đạt kết quả, ông hạ lệnh rút quân về nước tổ chức lại và luyện tập thường xuyên, tăng cường điều tra tình hình giặc, xây dựng phòng tuyến ở phía bắc Kinh thành Thăng Long ra sức chuẩn bị kháng chiến.

Ngày 18-1-1077, quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy với 10 vạn lính bộ binh, 1 vạn ngựa, 20 vạn dân phu tiến tới sông Như Nguyệt. Quách Quỳ và Triệu Tiết tổ chức cho đại quân hai lần vượt sông thì cả hai lần đều bị đẩy lui. Khi chúng cụm lại thì bị các đội quân của ta đánh vào từng trại làm cho quân địch sống trong tâm trạng mệt mỏi, sợ hãi. Phòng tuyến sông Như Nguyệt đã giam hãm bộ binh và kỵ binh địch, đưa chúng vào thế khó khăn, thiếu thốn lương thực. Ở sau lưng, chúng luôn bị quân dân các địa phương của ta quấy rối, đánh tiêu hao, viện binh cũng không đến được. Đến khi nhận thấy quân Tống đã lâm vào tình trạng thế suy, lực giảm, đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt (tức Khúc sông Cầu chảy qua huyện Yên Phong, lộ Bắc Giang), giả làm thần đọc vang bài thơ:

 “Nam quốc sơn hà Nam đế cư.

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Dịch nghĩa:

“Sông núi nước Nam vua nam ở,

Rành rành định phận tại sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Bài thơ bất hủ có giá trị như một bản Tuyên ngôn của dân tộc Việt Nam khiến địch hoang mang. Tinh thần quân ta phấn chấn hẳn lên. Cuối cùng địch bị đánh hất về phía bên kia sông. Tướng giặc Quách Quỳ nao núng, ra lệnh “ai bàn đánh sẽ bị chém”. Chúng không dám mạo hiểm vượt sông.   
Đầu tháng 3-1077, quân Tống thua chạy hỗn loạn trên khắp chiến trường. Hơn hai tháng tiến đánh nước ta, quân Tống đã bị quân dân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, tiêu diệt 8 vạn tên lính chiến, 7 vạn tên tiếp lương, phục vụ. Để kết thúc chiến tranh trong điều kiện ta đang ở thế thắng, tương lai dân tộc có lợi cho ta, với tư tưởng “không nhọc tướng ta, khỏi tốn xương máu mà vẫn bảo toàn được tôn miếu”, Lý Thường Kiệt đã chủ động điều đình với nhà Tống. Nhà Tống chấp nhận các điều kiện ta đưa ra, rút hết quân về nước. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống đã kết thúc thắng lợi, độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của dân tộc được giữ vững.

Chiến thắng của Lý Thường Kiệt năm 1077 là sự mở đầu cho đường lối kết hợp vừa đánh, vừa đàm để kết thúc chiến tranh trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam.

Đầu năm 1101, Lý Thường Kiệt được triều Lý phong kiêm chức Nội thị phán Thủ đô áp nha Hành diện Nội ngoại đô tri sự, một chức giành cho bậc đại thần, coi tất cả các việc trong và ngoài triều đình.

Năm 1103, Lý Giác nổi lên làm phản ở Diễn Châu, mặc dù khi ấy tuổi đã cao, Lý Thường Kiệt vẫn xin đem quân đi đánh dẹp và đã chiến thắng, Lý Giác chạy trốn sang Chiêm Thành. Quân Chiêm Thành lấy lý do ấy đem quân sang lấn cướp biên giới. Năm 1104, Lý Thường Kiệt lại được lệnh đem quân đi đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi. Chúa Chiêm Thành phải trả lại đất ba châu mà họ đã chiếm. Đây cũng là cuộc cầm quân và chiến thắng cuối cùng của vị tướng trăm trận trăm thắng Lý Thường Kiệt.

Lý Thường Kiệt là một vị tướng, một người chỉ huy có nhiều mưu lược. Ông trải qua ba triều vua, đánh Tống, bình Chiêm, công lao của ông ngày càng lớn, càng được triều đình tin cậy.

Tháng 6 năm 1105, Lý Thường Kiệt qua đời. Sau khi ông mất, người dân ở cả trấn Thanh Hóa và kinh thành Thăng Long đều lập đền thờ ông làm phúc thần, hàng năm nhân dân vẫn thành kính thắp hương để tưởng nhớ ơn đức của ông.

Tiêu biểu nhất là bài văn bia Chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa:

 Lý công nước Việt,

Noi dấu tiền nhân.

Cầm quân tất thắng,

Trị nước yên dân.

Danh lừng Trung hạ,

Tiếng nức xa gần...


Nguồn: Minh Nguyệt
02-06-2014
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s