Lê Lai


10-06-2014
Lê Lai (?-1418), quê ở làng Dựng Tứ, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Lê Lai tính tình cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh, ông hăng hái tham gia và có mặt ngay từ những ngày đầu.

Tháng Hai, năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng Lê Lai và 17 người thân tín sang làng Lũng Nhai (thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa) làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em quyết chí đánh giặc cứu nước. Trong không khí nghiêm trang của hội thề Lũng Nhai, Lê Lợi trịnh trọng đọc lời thề. Lời thề có đoạn: “… Phụ đạo lộ Khả Lam nước An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thuận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lưu Ninh, Lê Hiềm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng Hạo thiên Thượng đế, Hậu thổ Hoàng địa và các tôn linh thần bậc thượng, trung, hạ coi sông núi ở các xứ nước ta… Nay ở trong nước, tôi là phụ đạo Lê Lợi cùng với Lê Lai đến Trương Chiến, 19 người. Tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhưng kết nghĩa nhau như một tổ liền cành… Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến, 19 người chung sức đồng lòng, giữ gìn đất nước”. Qua bài văn thề Lũng Nhai, việc ông được xếp tên sau Lê Lợi chứng tỏ Lê Lai rất có uy tín trong những người chí cốt đang cùng nhau lo toan việc cứu nước, cứu dân.

Sau hội thề, Lê Lợi trao cho Lê Lai lo việc hậu cần cho nghĩa quân, một công việc rất khó khăn trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa. Lê Lai đã không phụ sự tin cậy đó, chỉ một thời gian ngắn hoạt động, việc cung cấp quân nhu cho nghĩa quân đã được chăm lo chu đáo. Nhờ đó, lực lượng nghĩa quân phát triển nhanh, đến cuối năm 1417 đã có khoảng vài nghìn người. Do có công trong việc chăm lo hậu cần cho nghĩa quân, ông được Lê Lợi giao chức Tổng quản phủ Đô.

Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành thuận lợi thì bọn tay sai của địch dò biết được. Quân Minh toan tính bóp chết cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước. Trước tình hình đó, trên cơ sở công việc đã đạt những kết quả bước đầu, Lê Lợi và các tướng lĩnh quyết định khởi nghĩa.

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7.2.1418), đúng vào dịp tết Nguyên đán, Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi binh ở Lam Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa phát động thì quân Minh tập trung lực lượng đến đàn áp. Để bảo vệ căn cứ, Lê Lợi bố trí nghĩa quân mai phục chặn đánh giặc, diệt hàng nghìn tên, thu được hàng nghìn quân tư, khí giới. Tuy nhiên do lực lượng quá chênh lệch; hơn nữa, nghĩa quân lại chưa có kinh nghiệm chiến đấu, nên để bảo toàn lực lượng, Lê Lợi và Bộ chỉ huy quyết định rút lên Mường Một (Lang Chánh). Quân Minh đuổi theo, nghĩa quân di chuyển đến núi Chí Linh (còn gọi là núi Bù Rinh), nương náu ở đây ba tháng. Nghĩa quân dựa vào địa thế hiểm trở, chốt giữ các vị trí trọng yếu, ngăn cản giặc. Nhưng quân Minh vẫn đuổi theo bao vây, quyết tiêu diệt cho kỳ được cuộc khởi nghĩa. Chúng dồn lực lượng chặn các ngả đường và dần dần khép chặt vòng vây. Nghĩa quân rơi vào một tình thế hết sức khó khăn. Bị vây chặt, nghĩa quân cạn hết lương thực, “hơn mười ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người ngựa đều khốn đốn”. Tình trạng đó kéo dài có thể đẩy nghĩa quân vào nguy cơ bị tiêu diệt.

Trong tình thế nguy cấp, Lê Lợi họp các tướng lạ hỏi: “Nay thế trận hiểm nguy, có ai dám làm như Kỷ Tín, thân khoác hoàng bào mà hy sinh thay ta không?”. Hiểu rõ tình thế mất, còn của cuộc khởi nghĩa, Lê Lai khẳng khái nói rằng: “Thần xin được tử trận thay chúa công. Ví như sau này giành được giang sơn thì xin nghĩ đến công lao của thần, khiến cho con cháu muôn đời được quốc ân, được vậy thần chết cũng nhắm mắt”. Lê Lợi rất thương cảm, Lê Lai nói rằng: “Tình hình nguy khốn, nếu ngồi khư khư, quân thần chung mạng, bao công sức đây hãy còn gì. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?”. Lê Lợi vái trời khấn rằng: “Lê Lai có công đổi áo, sau này khôi phục nghiệp xưa, nếu không nhớ đến công lao ấy thì xin cung điện biến thành rừng núi, ấn báu thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”. Sau đó, Lê Lai cải trang làm Lê Lợi rồi dẫn 500 nghĩa quân và hai con voi kéo tới trại giặc khiêu chiến. Lê Lai thúc ngựa xông thẳng vào giữa trận hô to: “Ta là chúa Lam Sơn đây”, quân Minh dốc quân ra đánh. Nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, diệt rất nhiều giặc. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân không chống nổi quân Minh. Trong trận này, Lê Lai đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu đến phút cuối cùng, bị quân giặc bắt, rồi đem hành hình. Hôm ấy là ngày 29 tháng 4 âm lịch.

Tưởng rằng thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn đã bị giết, cuộc khởi nghĩa đã bị tiêu diệt, quân Minh rút về thành Tây Đô. Lê Lợi và nghĩa quân mới thoát khỏi vòng vây của quân giặc để xây dựng lực lượng, tiếp tục chiến đấu.

Cảm động vì lòng trung nghĩa của Lê Lai, Bình Định vương Lê Lợi sai người tìm di hài ông, đem về mai táng ở Lam Sơn. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua truy phong Lê Lai là công thần hạng nhất, truy tặng “Sùng trung Đồng đức hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần”, hàm Thiếu úy, thụy Toàn Nghĩa. Tháng 2 năm 1429, nhà vua còn sai Nguyễn Trãi viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công Lê Lai, để vào trong hòm vàng. Theo lời dặn của vua Lê Thái Tổ, con cháu nhà Lê sau này làm giỗ Lê Lai vào ngày hôm trước ngày giỗ của Lê Lợi (22 tháng Tám âm lịch). Các triều đại nhà Lê đều có gia phong, truy tặng tước hiệu cho Lê Lai. Năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong ông làm Trung Túc Vương.

Sự hy sinh của Lê Lai không những mở đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn mà còn là tấm gương sáng ngời lòng trung nghĩa đối với nghĩa quân, nhất là những người trong gia đình ông. Noi gương Lê Lai, người anh Lê Lãn đã dũng cảm chiến đấu và đã hy sinh trong trận đánh ở Khả Lưu năm Ất Tỵ (1425), sau được vua Lê đã truy tặng hàm Thái phó Hiệp trung hầu, gia tặng Hiệp Quân công.

Thời gian Lê Lai sống và chiến đấu trong hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn không dài. Ông đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ đầu khó khăn của cuộc khởi nghĩa để nghĩa quân thoát khỏi tình thế hiểm nghèo do bị quân Minh bao vây chặt. Đó là sự hy sinh của người anh hùng vì nước quên mình, sự hy sinh đó tạo cơ hội cho cuộc khởi nghĩa tồn tại để xây dựng lại lực lượng rồi phát triển thành một cuộc khởi nghĩa lớn quét sạch ách đô hộ nhà Minh, giải phóng đất nước. Trong lịch sử và trong ký ức nhân dân hình tượng “Lê Lai liều mình cứu Chúa” thật hùng tráng và vô cùng đẹp đẽ. Hiện nay, ở Dựng Tú còn đền thờ Lê Lai. 


Nguồn: Thẩm Phương Anh
10-06-2014
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s