Cao Lỗ


25-11-2013
Làng Đại Than, Châu Vũ Ninh (nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) là mảnh đất Cao Lỗ được sinh ra và lớn lên. Cuối thời Hùng Vương, Vũ Ninh là một địa bàn cộng cư đông đúc, có đời sống nông nghiệp khá phát triển. Theo Thần tích làng Đại Than, khi còn là một chàng trai trẻ, Cao Lỗ đã nổi tiếng là người văn võ song toàn, giỏi vật; bởi thế, ngoài cái tên Cao Lỗ, ông còn có tên là Đô Lỗ. Khi An Dương Vương dựng nước Âu Lạc gặp khó khăn, đã ra sức mong người hiền tài. Biết được tin đó, Cao Lỗ đã từ biệt cha mẹ, làng quê thân yêu quyết đem tài năng ra giúp nước.


Truyền thuyết, Thư tịch cổ kể rằng, trở thành vị tướng của quốc gia Âu Lạc, việc đầu tiên là Cao Lỗ khuyên Vua dời đô về đóng đô ở Cổ Loa thay kinh đô của các vua Hùng (vùng ngã ba Bạch Hạc thuộc Việt Trì - Phú Thọ ngày nay) đã không còn phù hợp với vị thế trung tâm của quốc gia Âu Lạc rộng lớn. Bấy giờ, Cổ Loa là một vùng đất lý tưởng để định đô. Ở đây, ngoài việc thuận lợi cho giao thông thủy bộ, mở mang phát triển nông nghiệp, có nguồn nhân lực dồi dào, còn là một vùng đất có địa thế lợi hại để xây dựng cứ điểm quân sự phục vụ cho mục đích phòng thủ quốc gia - nhu cầu cần thiết đối với một quốc gia vừa mới thống nhất. Thần tích làng Đại Than cho biết, sau thời gian cùng Cao Lỗ tìm đất định đô và đã chọn Cổ Loa, An Dương Vương tin tưởng giao cho Cao Lỗ toàn bộ công việc chỉ huy quân đội và xây thành đắp lũy. Dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và tài năng thiết kế, tổ chức xây dựng của Tướng quân Cao Lỗ; bằng trí tuệ, kinh nghiệm và sự đóng góp hàng vạn ngày công của quân và dân Âu Lạc, việc xây thành đã hoàn tất. Đó là một tòa thành được tạo bởi ba vòng thành khép kín: Thành ngoại dài khoảng 8000 mét, chiều cao trung bình từ 3-4 mét, bề mặt của tường rộng khoảng 12 - 15 mét, chân thành rộng 12-20 mét, có ba cửa: Bắc, Đông và Tây Nam, trong đó cửa Đông là cửa thông ra sông Hoàng. Thành Trung, chu vi dài 6.500 mét, tường thành cao 6-12 mét, mặt thành rộng trung bình 10 mét, có 5 cửa là Đông, Bắc, Đông Nam, Tây Bắc và Tây Nam, trong đó cửa Đông là cửa đường thủy mở lối cho một nhánh sông Hoàng chảy vào sát chân thành. Thành Nội là nơi ở của nhà Vua, có hình chữ nhật khá vuông vức, chu vi khoảng 1.650 mét, tường thành cao 5 mét, mặt thành rộng 10 mét, chân thành rộng 20 mét, chung quanh tường thành có 12 ụ đất nhô ra gọi là “hỏa hồi”. Cả ba vòng thành đều có ngoại hào nối với nhau và nối liền với sông Hoàng tạo thành một mạng lưới giao thông rất tiện lợi. Ngoài ba vòng thành và hào khép kín, khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành ngoại còn có nhiều đoạn lũy và ụ đất được bố trí và sử dụng như những công sự phòng vệ nằm trong cấu trúc chung của thành.

Một sáng tạo độc đáo cũng là một ưu điểm nổi bật của thành Cổ Loa là “tổng công trình sư” Cao Lỗ đã biết lợi dụng, khai thác nguồn nước sông Hoàng phục vụ cho mục đích quân sự. Với hệ thống sông, hào tự nhiên, nhân tạo dày đặc bao quanh ba vòng thành dẫn nước vào sâu tận thành Nội, không chỉ trở thành chướng ngại vật vô cùng lợi hại ngăn chặn những đợt tiến công của quân giặc, mà còn là đường giao thông thủy vô cùng thuận lợi cho việc tiến công quân địch cũng như trong trường hợp thoát khỏi thành một khi lâm vào thế bị bao vây, Cổ Loa không chỉ là công trình phòng thủ kết hợp giữa bộ binh và thủy binh, tích hợp được tinh hoa tài đánh bộ, đánh thủy của mọi thành phần người Việt mà chính là một căn cứ “hải quân”, một “quân cảng” lớn, lấy thủy quân làm lực lượng tác chiến chủ đạo. Điều này rất phù hợp với tài thủy chiến của người Việt.

Xây xong Thành Cổ Loa, An Dương Vương còn sai Cao Lỗ chế tạo “nỏ thần”. Tác giả và công dụng của loại vũ khí này đều được sử cũ xác nhận. Theo Việt sử lược - bộ sử cổ xưa nhất của Việt Nam “lúc bấy giờ An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ làm được nỏ liên châu mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên”. Đại Việt sử ký toàn thư cũng xác nhận “Đắp xong thành (Cổ Loa)… vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy đặt tên là Linh Quang kim trảo thần nỏ”. Thư tịch cổ Trung Quốc đã phóng đại hơn về khả năng của loại vũ khí do Cao Lỗ chế tạo: “Mỗi phát giết được ba trăm người” (Giao Châu ngoại vực ký), “bắn một phát giết chết quân  (Triệu Đà) hàng vạn người” (Nam Việt chí), “mỗi phát tên đồng xuyên qua hơn chục người” (Việt kiệu thư). Hẳn là loại vũ khí này có tính năng đặc biệt, có uy lực sát thương và hiệu quả chiến đấu hơn hẳn so với loại nỏ bình thường nên người đương thời gọi là “nỏ thần” và Cao Lỗ, người phát minh ra nó được gọi là ông Nỏ.

Theo sử sách và truyền thuyết dân gian, sau khi thành lập nước Nam Việt, Triệu Đà đã nhiều lần đem quân xâm lược nước ta. Dưới sự chỉ huy của An Dương Vương và vị tướng soái tài ba Cao Lỗ, quân và dân Âu Lạc đã không dựa vào thành cao, hào sâu đợi giặc đến đánh mà chủ động tiến công quân địch ngay tại căn cứ xuất phát của chúng - vùng Tiên Du, Vũ Ninh - Cổ Loa. Trong những cuộc đối đầu với quân giặc, thành Cổ Loa và “nỏ thần” của Cao Lỗ đã phát huy tác dụng to lớn, khiến đội quân xâm lược Triệu Đà hoang mang, khiếp đảm, bị tổn thất rất lớn. Sử chép: “Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn không dám đối chiến” (Theo Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hóa, H.1960, tr.60).

Sau nhiều lần bị thất bại thảm hại, biết không thể chinh phục được Âu Lạc bằng sức mạnh quân sự, Triệu Đà quay sang thực hiện cuộc chiến tranh gián điệp với nhiều thủ đoạn quỷ quyệt (kết thông gia với An Dương Vương - cho thái tử Trọng Thủy, con trai của Nam Việt Vương cầu hôn công chúa Mỵ Châu, con gái An Dương Vương), gây chia rẽ khối đoàn kết trong nội bộ triều đình, An Dương Vương nghe lời gièm pha, xiểm nịnh của bầy tôi đã đuổi Cao Lỗ ra khỏi thành, với kế sách đó Trọng Thủy cung cấp mọi thông tin về tình hình chính trị, quân sự của nước Âu Lạc, Triệu Đà liền gấp rút tăng cường lực lượng, trang bị, huấn luyện kỹ thuật cung nỏ Triêu Đà mang đại quân tiến thẳng vào thành Cổ Loa. An Dương Vương chủ quan, khinh địch, ỷ vào “nỏ thần” và thành Cổ Loa, lại không có tướng tài nên đã nhanh chóng thất bại thảm hại. Nghe tin giặc tới, từ đại bản doanh đóng ở Đại Than, Cao Lỗ trở lại thành Cổ Loa xả thân cứu nước. Sau một ngày chiến đấu dũng cảm, kiên cường, tướng Cao Lỗ đã anh dũng hy sinh tại thành Cổ Loa.

Ông là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước cảu dân tộc, là người đã góp phần làm nên công trinh thành Cổ Loa vĩ đại và “nỏ thần” kỳ diệu, đánh dấu bước phát triển mới về kỹ thuật quân sự, tư duy quốc phòng của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.


25-11-2013
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s