Trung tướng Lư Giang


23-08-2016
Trung tướng Lư Giang (1920-1994) (tên thật Lê Bá Ước), quê ở xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, là con một gia đình địa chủ yêu nước ở địa phương, có ông nội và bác ruột đều tham gia chống Pháp.

Cuối năm 1940, sau khi tốt nghiệp tiểu học ông về quê làm thư kí cho bố ông. Trong thời gian này, ông thường đi giao dịch với khách hàng, khi Hà Nội-Bắc Giang, lúc Lạng Sơn-Đình Lập…         

Cuối năm 1942, ông tham gia Việt Minh, làm nhiệm vụ tuyên truyền và xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng ở thôn Giàng. Cuối năm 1943, ông tham gia thành lập Đội du kích Hoa Việt kháng Nhật. Đến cuối năm 1944, ông đã tổ chức được Đội tự vệ gồm hơn 10 người có trang bị súng Kíp, súng Dóp 3, súng Dóp 4. Tháng 2/1945, ông nhập ngũ, là Chính trị viên Đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân thuộc Chiến khu Hoàng Hoa Thám và Đông Triều (Đệ tứ chiến khu). Sau ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Với lực lượng của mình đồng chí Lư Giang đã tổ chức đóng giả lính Nhật tập kích vào đồn Mai Sưu sau đó tổ chức phá kho thóc thu về 400 tấn cứu đói cho dân. Ngày 19/8/1945, ông chỉ huy Đội trở về thị trấn Chũ, nhanh chóng cùng các đồng chí của mình tổ chức lực lượng đi Bắc Giang (gồm 800 người) qua phà phố Phủ, sang Thanh Giã, lên Vôi theo đường quốc lộ về thị xã Bắc Giang. Thành phần gồm các lực lượng: Đội vũ trang tuyên truyền Hoa Vận, lực lượng tự vệ, nhân dân các làng, xã lân cận từ thị trấn Cường Sơn đến Sàn Cọc, Bắc Lũng, Tam Dị… Càng đi đoàn người càng đông, càng dài vì dân các xã dọc đường hưởng ứng tham gia. Tối ngày 20/8/1945, Đoàn đến thị xã Bắc Giang. Sáng ngày 21/8/1945, cuộc mít tinh tại bãi Stat tập trung hàng chục vạn người, chính quyền thị xã Bắc Giang về tay nhân dân. Ngày 5/9/1945, ông chỉ huy lực lượng đánh chiếm đồn Chũ. Tháng 10/1945, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 12/1945 đến năm 1946, ông là chỉ huy giải phóng quân Bắc Giang. Ngày 10/1/1946, Đoàn quân Nam tiến Bắc Giang do ông làm chỉ huy nhập với Đoàn quân Nam tiến của Bắc Ninh tại thị trấn Phả Lại thành lập lên Chi đội Nam tiến Bắc Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh) do ông làm Chi đội trưởng.

Sau hơn nửa tháng hành quân, chi đội Bắc Bắc vào đến Quảng Ngãi, thì nghe tin Pháp đã chiếm thị xã Phan Thiết, chuẩn bị đánh ra Nha Trang, nên chi đội không vào Nam như dự định mà dừng lại chiến đấu ở mặt trận Nha Trang. Tại đây, ông  lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng thuộc Chi đội 3 Nha Trang, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 80, 83, Tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Phú Yên.

Từ năm 1947 đến năm 1952, ông là Liên Trung đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Trung đoàn 80, 83 sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 803, 84, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Đắc Lắc, Trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 105. Tháng 12/1953, ông là Phái viên của Bộ Tổng tham mưu công tác ở Liên khu 5. Tháng 7/1954, ông chỉ huy lực lượng tiếp quản khu vực Quy Nhơn, sau đó là Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc từ 12/1954 đến 1964, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tham mưu phó và Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 349, 375. Từ năm 1958 đến năm 1963, ông là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Pháo binh 368, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Năm 1964, ông được lệnh vào Nam chiến đấu tại chiến trưởng Khu 5. Đầu tháng 7/1964, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam thành lập, tháng 12/1964, ông được cử làm Tư lệnh trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy, ông Nguyễn Hồng Châu (Năm Phổ) là Bí thư Liên tỉnh ủy kiêm Chính ủy phân khu; trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang 3 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc. Tháng 9/1968, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 2/1973, ông là Trưởng đoàn đại biểu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp Quân sự bốn bên khu vực Đà Nẵng. Tháng 5/1973, ông là Trưởng đoàn Quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp Quân sự hai bên ở khu vực Pleicu. Tháng 3/1975, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 5, Tư lệnh Phân khu Nam, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 (Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương), trực tiếp chi viện cho các cánh quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.     

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông được điều ra Bắc giữ chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô, Phó Tư lệnh Quân khu Thủ (11/1977-1979). Từ năm 1980 đến 1989, ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.       

Ông  là đại biểu Quốc hội khoá VII, VIII, Uỷ viên Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá VIII. Năm 1989 ông được Nhà nước cho nghỉ hưu. Ông là Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội.

Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984) và được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì), Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

 


Nguồn: Hà An
23-08-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s