Thượng tướng Đinh Đức Thiện


18-12-2015
Thượng tướng Đinh Đức Thiện, tên thật là Phan Đình Dinh (1913-1986), tại xã Nam Vân, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu nước, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi 8 người con. Ông là em trai của Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) anh trai của Mai Chí Thọ (Phan Đình Đống) và là con thứ 5 trong gia đình.

Năm 1930, ông tham gia hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam ở Nam Ðịnh. Năm 1931, sau khi được trả tự do, ông vào Sài Gòn hoạt động. Năm 1936, ông hoạt động trong Hội Ái hữu công nhân và tham gia phong trào Mặt trận dân chủ. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 4/1940, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2 giam ở nhà lao Nam Ðịnh sau chuyển về nhà lao Hoả Lò (Hà Nội). Năm 1942, ông ra tù, tìm bắt liên lạc với Trung ương và tiếp tục hoạt động ở địa phương. Tháng 4/1944, Trung ương điều động ông lên hoạt động ở Vĩnh Yên nhằm xây dựng cơ sở chính trị và an toàn khu cho Trung ương. Tháng 1/1945, Trung ương quyết định chuyển Đoàn công tác do ông đứng đầu thành Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Yên, ông tham gia Ban cán sự Tỉnh uỷ rồi làm Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Yên. Cuối tháng 3-1945, Tỉnh uỷ lâm thời Vĩnh Yên họp hội nghị đầu tiên bàn kế hoạch thi hành Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương ngày 12-3-1945: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4 đến tháng 7/1945, nhiều cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra ở nhiều nơi ủng hộ Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa, đồng thời nhiều cuộc biểu tình phá kho thóc của địch nổ ra tạo nên khí thế cách mạng rất mạnh mẽ. Từ tháng 6/1945 đến 8/1945, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Yên đứng đầu là ông, các Uỷ ban Dân tộc Giải phóng ở các làng xã được thành lập lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành lại chính quyền. Sau cách mạng tháng 8/1945, ông làm Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh Bắc Giang. Năm 1947, ông được Trung ương chỉ định tham gia Uỷ viên khu 12. Từ năm 1948-1949, ông là Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Khu I Việt Bắc.

Năm 1950, ông được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải, vừa là Bí thư Đảng ủy Cục, đồng thời là Đảng ủy viên Đảng ủy Tổng cục Cung cấp. Năm 1954, là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Tổng cục. Trên cương vị này, ông đã cùng lãnh đạo Tổng cục chỉ đạo đảm bảo hậu cần tiếp tế kịp thời cho các chiến dịch, trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ 1957 đến 1964, ông là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bí thư Đảng ủy và Giám đốc Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên - khu công nghiệp lớn nhất miền Bắc lúc đó. Đây là khu công nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Đến năm 1965, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Ủy viên Quân ủy Trung ương. Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, ông cùng lãnh đạo Tổng cục tiếp tục chỉ đạo xây dựng con đường vận tải chiến lược Trường Sơn, chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam.

Năm 1969, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim, năm 1972 là Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1973, khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam theo hiệp định Paris, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuẩn bị mọi mặt để giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Đường vận tải chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu được xây dựng, một khối lượng lớn phương tiện kĩ thuật, bộ đội, công nhân, kĩ sư và thanh niên xung phong được huy động. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ông đã chỉ đạo cán bộ công nhân viên của Bộ phối hợp cùng với Binh đoàn Trường Sơn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tháng 9/1974, ông làm Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975), ông là Phó Tư lệnh Chiến dịch, ông đã cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau khi đất nước được thống nhất, ông được Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp quản các cơ sở vật chất và tài liệu của các công ty dầu khí tại miền Nam, đồng thời thành lập Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ IV của Đảng (1976), ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ cương vị Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí, Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí (đến năm 1981). Ông cùng các cộng sự của mình là cựu Cục trưởng Cục Dầu khí đầu tiên, nhà khoa học Nguyễn Văn Biên tham gia việc khởi thảo, hiện thực hóa Hiệp định hợp tác Việt Nam và Liên Xô về thăm dò, khai thác dầu khí tại lục địa Nam Việt Nam. Ông hiểu ngành Dầu khí là ngành đặc thù, đòi hỏi công nghệ cao, tri thức tổng hợp: địa chất, vật lý, hóa học, kinh tế học, cơ khí, dịch vụ kỹ thuật ở tầm cao. Vì thế đích thân ông đi đến nhiều tỉnh, thành trong cả nước để tìm địa điểm xây dựng cơ sở kỹ thuật cho ngành Dầu khí, cuối cùng xác định lấy Vũng Tàu làm nơi xây dựng hạ tầng ban đầu, đặc biệt làm cảng dầu khí cho Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro. Sự quyết đoán này của ông tạo tiền đề quan trọng cho những kế hoạch tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí sau này.

Năm 1980 - 1982, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1986) và được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (truy tặng 23/9/2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...


Nguồn: Minh Nguyệt
18-12-2015
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s