Thượng tướng Đàm Quang Trung


08-12-2015
Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995), tên thật là Đàm Ngọc Lưu, quê tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông là con trai út trong gia đình có 7 anh chị em.

Hai người anh lớn của ông là Đàm Văn Lý (bí danh Quý Quân, sinh năm 1915, tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1932) và Đàm Văn Lân (hay Đàm Minh Viễn, bí danh Đức Thanh, sinh năm 1918). Năm 1937, ông tham gia hoạt động cách mạng và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 2/1939. Tháng 5/1940, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam rồi quản thúc tại địa phương. Năm 1941, ông được Bác Hồ cử đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các đồng chí Hoàng Văn Thái, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo, Nam Long...

Tháng 7/1944, ông chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh ở căn cứ địa Tân Trào. Trong thời gian này có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc nhằm phối hợp với Việt Minh giải giáp vũ khí của Phát-xít Nhật, ông được chỉ định làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ. Tháng 9/1944, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc. Ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22/12/1944, ông xin gia nhập Đội

Đàm Quang Trung còn được Bác Hồ, Tổng Quân uỷ giao cho trọng trách chỉ huy ba cuộc duyệt binh, diễu binh lịch sử: Ngày 2/9/1945, ông được giao chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng ngày Quốc khánh và Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Ngày 29/3/1946, chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội ta và quân đội Pháp ở Vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa Lê-Nin). Ngày 1/1/1955, ông chỉ huy diễu binh đón mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.

Năm 1953-1954, đồng chí Đàm Quang Trung trên cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 312 đã chỉ huy đơn vị giúp các bộ tộc Lào đánh nhiều trận, giải phóng Thượng Lào.

Đầu năm 1958, ông về nước. Tháng 4/1958, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn và được phong hàm Đại tá. Tháng 3/1961, ông được điều sang làm Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Thường vụ Quân khu ủy. Tháng 8/1966, ông được điều ra tiền phương, giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại Mặt trận B5 (Quảng Trị), kiêm Phó Tư lệnh Quân khu 4, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Năm 1967, ông được cử làm Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Trong Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, ông là chỉ huy lực lượng tập kíchThành cổ Quảng Trị. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), ông giữ chức vụ Tư lệnh pháo binh Mặt trận. Năm 1973, ông được cử làm Tư lệnh Quân khu 4 thay cho tướng Vương Thừa Vũ. Tháng 7/1976, ông được phân công giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1, Bí thư Quân khu ủy. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV (tháng 12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Quân ủy Trung ương.

Năm 1979, tại chiến trường Quân khu 1 trong chiến tranh biên giới phía Đông Bắc, ông chỉ huy các lực lượng tại chỗ đánh trả đẩy lùi lực lượng tấn công của địch và gây thiệt hại nặng nề quân xâm lược. Tháng 7/1981, ông được Quốc hội khóa VII bầu giữ chức Ủy viên Hội đồng Nhà nước, kiêm Tư lệnh Quân khu 1. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam  (tháng 3/1982), ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1984, ông làm Tư lệnh Quân khu 1, Bí thư Đảng ủy Quân khu 1. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam  (tháng 12/1986), ông tiếp tục tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 6/1987, ông được Quốc hội khóa VIII bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc. Ông là Đại biểu Quốc hội từ khóa IV đến khóa VIII. Năm 1992, ông nghỉ hưu.

Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984) và  được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.


Nguồn: Hà An
08-12-2015
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s