Thượng tướng Chu Văn Tấn


24-02-2016
Thượng tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), bí danh Tân Hồng, sinh tại tổng Lâu Thượng, châu Võ Nhai, tỉnh Lạng Sơn (nay thuộc xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên). Ông nguyên là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong 9 Thiếu tướng đầu tiên được phong năm 1948 và cũng là một trong 2 Thượng tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Xuất thân trong một gia đình thổ hào người Nùng yêu nước, cha ông là Chu Văn Hòa từng tham gia nghĩa quân Hoàng Hoa Thám chống Pháp. Là người có học vấn và có tinh thần dân tộc, ông thường xuyên đấu tranh với những quan chức thực dân để giảm áp bức và sưu thuế, vì vậy, ông có uy tín với dân chúng trong vùng. Năm 1934, dưới ánh sáng đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, ông bí mật xây dựng các đội tự vệ bán vũ trang ở Tràng Xá, Võ Nhai, Bắc Sơn. 

Thượng tướng Chu Văn Tấn - Ảnh sưu tầm.

Năm 1935, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương về gây dựng cơ sở và thành lập chi bộ Cộng sản ghép ở 2 châu Võ Nhai và Bắc Sơn. Chu Văn Tấn được mời tham dự chi bộ. Năm 1936, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương với bí danh là Tân Hồng.

Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật bất ngờ tấn công Lạng Sơn. Quân Pháp đồn trú tại đây hoảng loạn tháo chạy qua châu Bắc Sơn. Nhân cơ hội này, ông lãnh đạo các đội tự vệ tấn công và cướp súng của tàn quân Pháp tại đèo Tam Canh để tự vũ trang cho mình. 

Tháng 11 năm 1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh quyết định về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, làm lực lượng quân sự đầu tiên cho cách mạng. Đầu tháng 2 năm 1941, ông được bầu làm Xứ ủy viên Bắc Kỳ, phụ trách xây dựng đội du kích Bắc Sơn. 

Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập trong một buổi lễ tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi (nay thuộc xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ đã thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ và lá cờ đỏ sao vàng cho Đội du kích Bắc Sơn. Bấy giờ Đội gồm 32 chiến sĩ, đồng chí Lương Văn Tri làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Chu Văn Tấn được cử làm Chỉ huy phó. 

Tháng 4 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam qua Quảng Tây về hang Pắc Pó, Cao Bằng. Chu Văn Tấn nhận nhiệm vụ chỉ huy đội bảo vệ đưa các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh từ Việt Nam sang Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi đi vòng về Cao Bằng tham dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pắc Pó vào tháng 5 năm 1941. Hội nghị này xác định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và đồng thời chủ trương thành lập lực lượng Cứu quốc quân làm nòng cốt quân sự cho Việt Minh. 

Sau khi đưa được một bộ phận của Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất về Pắc Pó an toàn và được chuyển thành đơn vị vũ trang bảo vệ căn cứ Pắc Pó, ông được giao nhiệm vụ về lại Võ Nhai để xây dựng và làm Chỉ huy trưởng của Trung đội Cứu quốc quân thứ hai, với 47 chiến sĩ (có 3 nữ), được thành lập ngày 15 tháng 9 năm 1941, tại Khuôn Mánh (nay thuộc xã Tràng Xá, Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên). 

Những năm sau, ông chỉ huy Cứu quốc quân phát triển lực lượng, đánh du kích ở Tràng Xá, phát triển về Đại Từ, cướp được nhiều vũ khí của quân Pháp. Lính Pháp đặt cho ông biệt danh là "Hùm xám Bắc Sơn". 

Cuối năm 1944, ông chỉ huy lực lượng Cứu quốc quân 2 xây dựng Chiến khu Nguyễn Huệ (nay thuộc Đại Từ, Thái Nguyên). Sau Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945, Chiến khu Nguyễn Huệ phát triển thành Chiến khu Hoàng Hoa Thám, trở thành căn cứ địa vững chắc để đón lãnh tụ Hồ Chí Minh và các lãnh đạo khác về đây hoạt động. 

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Ban lãnh đạo tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ lâm thời từ cuối tháng 8 năm 1945 đến ngày 2 tháng 3 năm 1946. Sau đó ông được cử là Phái viên của Chính phủ đi kiểm tra Khu 4. 

Năm 1948, ông làm Khu trưởng Khu 4 rồi Chiến khu 1, Bí thư Khu ủy. Cùng năm này, ông được phong quân hàm Thiếu tướng cùng với 10 tướng lĩnh khác trong đợt phong tướng đầu tiên. 

Thiếu tướng Chu Văn Tấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Chiến khu Việt Bắc (2.1951) 
- Ảnh: Chu Vân Anh.

Từ năm 1949 đến năm 1954, ông làm Khu trưởng, Bí thư khu ủy Liên khu Việt Bắc, Chánh án Tòa án Quân sự, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1954 đến cuối năm 1956, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1957 đến cuối năm 1975, ông làm Chính ủy, Bí thư khu ủy Quân khu Việt Bắc, Chủ tịch Ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc. Ngày 31 tháng 8 năm 1959, ông được thăng quân hàm vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng và là một trong hai Thượng tướng lúc bấy giờ. 

 

Thượng tướng Chu Văn Tấn, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc, tháng 11/1972 - Ảnh sưu tầm.

Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa III - VI; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông cũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa II, III; đại biểu Quốc hội khóa II - VI. 

Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 

Với những thành tích đạt được trong quá trình công tác, Thượng tướng Chu Văn Tấn được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Năm 1984, ông mất tại Hà Nội. 

Bác Hồ và Thượng tướng Chu Văn Tấn - Ảnh sưu tầm.

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Thượng tướng Chu Văn Tấn đã không phụ lòng tin cậy của Bác Hồ, của Trung ương Đảng, góp phần tích cực trong việc xây dựng, phát triển Đảng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng và dựng nên nhà nước của dân, vì dân./. 

Thiếu tướng Chu Văn Tấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Chiến khu Việt Bắc (2.1951) 
- Ảnh: Chu Vân Anh.

Nguồn: Thuận Nguyễn
24-02-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s