Nguyễn Duy


27-05-2016
Nguyễn Duy tên chữ là Nhữ Hiền (1809-1861), quê ở Chi Long, xã Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Năm 1827, ông đỗ tú tài. Đến năm 1841, ông đỗ Hai cống (cử nhân). Sau đó 1 năm, có ân khoa, ông dự thi Hội đỗ Đệ tam Giáp đồng tiến sĩ. Năm 1843, Nguyễn Duy được bổ dụng Biên tu Nội các, năm 1844, được thăng Hàn lâm viện tu soạn. Năm 1845, ông làm Tri phủ phủ Tây An. Sau vì có tang bố, ông phải về cư tang. Năm 1849, ông được điều làm Tri phủ Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình. 
 
Đến năm 1852, ông được thăng Thị giảng học sĩ và cử đi sứ nhà Thanh. Khi ấy, ở ngoài khơi có giặc Tàu cướp phá thuyền bè dọc bờ biển, do đó thuyền của Sứ bộ Nguyễn Duy không về được. Mãi đến năm 1855, ông mới về phục mạng. Sau chuyến đi sứ về, Nguyễn Duy được thăng hàm Đại lý Tự khanh biện lý bộ Lại. 
Năm 1847, tàu chiến của Pháp khiêu khích ở Đà Nẵng. Năm 1856, tàu chiến của Pháp lại đến cửa biển Đà Nẵng diễu võ dương oai, vua Tự Đức cử ông và Đào Trí Phú vào đắp đồn lũy phòng giữ chống tàu chiến Pháp. Hoàn thành xong công việc, ông lại về Kinh phụng chỉ. 
 
Chính phủ Pháp sau khi cùng Triều đình Mãn Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân, ngày 27/6/1858, Bộ Thuộc địa - Hải quân Pháp điều động Thiếu tướng Hải quân Rigôn Đờ Giơnuiy (Rigauld De Genouilly) Tổng chỉ huy lực lượng Hải quân Pháp vùng biển Đông làm Phó Thủy sư Đô đốc giữ chức Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Ngày 30/8/1858, chiến hạm Pháp đến đóng ở đảo Hải Nam để hội quân với chiến hạm Tây Ban Nha (do Đại tá Lan da rết (Lazarois) chỉ huy. Ngày 31/8/1858, 13 chiến thuyền của Liên quân Pháp - Tây Ban Nha đến ngoài biển vịnh Đà Nẵng thả neo. Triều đình đã cử Nguyễn Tri Phương vào Đà Nẵng. Nguyễn Duy tình nguyện đi quân thứ Đà Nẵng cùng với Đào Trí Phú lập đồn Trấn Đông trên núi Sơn Trà. Ngày 01/9/1858, chiến hạm liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công bán đảo Sơn Trà. Hai ông đã chặn đánh quyết liệt, không cho chúng tiến sâu vào đất liền. Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công vào các vị trí phòng thủ của quân ta. Tình thế rất nguy nan, quan quân hoảng loạn bỏ hàng ngũ, Nguyễn Duy kiên quyết ở lại và tuyên bố: "Đã là yêu nước thì không luận văn hay võ”. 
 
Tháng 9 và tháng 10, Nguyễn Duy trực tiếp chỉ huy quân dân Quảng Nam dùng sọt tre, thùng gỗ chứa đất đá lấp dòng sông Vĩnh Điện để ngăn chặn tầu chiến của giặc Pháp. Dòng sông bị lấp, thế nước sẽ dồn vào cửa biển Đại Chiêm, do đó mạn hạ lưu sẽ cạn, tàu giặc không thể vào được, quân ta chỉ lo phòng thủ mặt bộ.  Tháng 11/1858, thuyền chiến Pháp tiến vào Sông Hàn và Sông Nại Hiên (Quảng Nam) bắn đạn pháo dữ dội vào các đồn lũy và làng xóm hai bên bờ sông. Ông đã cùng Đào Trí Phú bố trí trận địa đánh tầu chiến và bộ binh giặc, khiến cho chúng bị thương vong nặng nề, cả 8 chiếc thuyền phải tháo chạy. Ngày 2/2/1859, Giơniy, kéo đại quân theo đường biển vào đánh chiếm Sài Gòn, chỉ để lại Đại tá Toayông (Toyou) giữ bán đảo Sơn Trà. Ngày 6 và 7/2/1859 , Nguyễn Duy và Đào Trí Phú tổ chức nhiều trận tấn công vào bán đảo Sơn Trà, nhằm tiêu diệt lực lượng quân chiếm đóng Pháp, nhưng việc không thành.
 
Tháng 8/1860, Nguyễn Duy được cử giữ chức Quân thứ Tán lý đại thần Gia Định, cùng Tôn Thất Cáp, Phan Tịnh vào Gia Định ứng cứu cho Nguyễn Tri Phương. Các ông về giữ Đại đồn Chí Hòa thay cho Tôn Thất Hiệp. Từ tháng 4/1860 , Tôn Thất Hiệp đã đánh thắng liên quân Pháp - Tây Ban Nha nhiều trận khi chúng tấn công Chí Hòa. Các ông đã củng cố xây dựng chiến lũy Chí Hòa vô cùng vững chắc. 
 
Đêm 23/2/1861, quân Pháp mở trận tấn công quy mô vào đồn Chí Hòa. Nguyễn Duy cùng Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân sĩ chiến đấu liên tục 2 ngày, 2 đêm, gây nhiều tổn thất cho giặc: quan 5 Tây Ban Nha là Palancce, 4 sĩ quan cao cấp, 30 sĩ quan, 121 hạ sĩ quan, 1805 lính liên quân bị giết chết tại trận. 
 
Song ngày 25/2/1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, Tán lý Nguyễn Duy, Tán tương Trí tử trận. Riêng Nguyễn Duy bị trúng đạn đại bác, xác ông biến dạng, không nhận ra hình người nữa. Có người biết được cái đai áo và gấu áo ông thường mặc liệm xác về chôn ở Cửa Đông thành Biên Hòa sau khi cải táng mới đưa về quê. 
 
Vua Tự Đức rất thương xót, truy tặng ông là Binh bộ Tả tham tri, ban cho 500 quan tiền tuất để mai táng và sắc cho con cháu bao giờ đến tuổi trưởng thành sẽ do Bộ tâu lên để được bổ dụng. Năm 1862, Nguyễn Duy được tùng tự vào miếu công thần và được thờ tại đền Trung hiếu trong làng Chí Long, tổng Chính Lộc, huyện Phong Điền. 
 
 

Nguồn: Hà Bách
27-05-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s