Lê Đức Thọ - Cố vấn đặc biệt tại Hội nghị Pari


26-01-2016
Đồng chí Lê Đức Thọ là một người cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo tài năng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Đồng chí Lê Đức Thọ (1911 – 1990), tên chính là Phan Đình Khải, sinh tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Đồng chí hoạt động cách mạng từ năm 1926, tham gia bãi khóa và dự lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh.
 
Năm 1929, đồng chí được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, làm Bí thư chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên, học sinh. Tháng 11/1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai, đày đi Côn Đảo. Tại đây, Lê Đức Thọ được bầu làm Bí thư Chi bộ và Thường vụ Chi ủy nhà tù.
 
Sau khi ra tù, từ năm 1936 đến năm 1939, đồng chí phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng bộ và tham gia xây dựng cơ sở bí mật của Đảng ở Nam Định. Từ năm 1939 đến năm 1944, đồng chí Lê Đức Thọ bị bắt và bị kết án 5 năm tại các nhà tù Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình.
 
Tháng 9/1944, đồng chí ra tù, được Trung ương giao phụ trách công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ. Đến tháng 10/1944, đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ.
 
Năm 1949, Lê Đức Thọ được cử làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1951, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Từ năm 1949 đến năm 1951 là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.
 
Năm 1966, đồng chí kiêm chức Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Năm 1967, Lê Đức Thọ được cử vào Quân ủy Trung ương. Năm 1968, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân giao đặc trách chỉ đạo đàm phán ở Hội nghị Pari với vai trò là Cố vấn đặc biệt của Đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn.
 

Cuộc đàm phán kéo dài 5 năm, từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973, gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu nhằm đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, tham dự có Đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Chính phủ Hoa Kỳ; giai đoạn hai nhằm giải quyết toàn diện vấn đề Việt Nam, có bốn đoàn tham gia là Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. 

 Cố vấn Lê Đức Thọ, Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy và Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 1.1973
 Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ họp báo giới thiệu nội dung Hiệp định Paris về Việt Nam (ngày 24/01/1973) tại "Trung tâm Hội nghị quốc tế" ở đại lộ Kléber

 

Cả hai giai đoạn đều có các cuộc đàm phám công khai và bí mật. Do yêu cầu của hai bên khác nhau nên các cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng và kéo dài. Trong suốt gần 5 năm, đồng chí Lê Đức Thọ được ví như một “Vị tướng ở ngoài biên”. Đồng chí đã thực hiện rất nghiêm túc đường lối chiến lược trong đàm phán mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp căn dặnluôn luôn giành thế chủ động, buộc đối phương phải đàm phán theo cách của mình. Khi Mỹ nêu lại vấn đề đòi miền Bắc rút quân, đồng chí Lê Đức Thọ bình tĩnh nói: “Tổng thống Ních xơn nói đến danh dự nước Mỹ, chúng tôi cũng có danh dự của chúng tôi. Các ông đem quân đến xâm lược nước chúng tôi, bây giờ các ông phải rút đi, lại đòi chúng tôi, những người chống xâm lược rút đi. Nếu có như vậy trong Hiệp định thì nhân dân chúng tôi làm sao mà chịu nổi”. Henri Kítxinhgiơ – Cố vấn an ninh quốc gia được Tổng thống Níchxơn phái sang Pari làm người đối thoại với đồng chí Lê Đức Thọ, buộc phải thừa nhận “sự phân tích của Lê Đức Thọ về chiến lược của Hoa Kỳ là đúng và khôn ngoan”. Đã có lúc, Kítxinhgiơ phải thốt lên rằng: “Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ”, “đàm phán với ông Thọ quả là cân não”. “Nếu tôi có một chút hy vọng để lựa chọn, chắc chắn tôi sẽ chọn một người đối thoại dễ tính hơn Lê Đức Thọ”. 

 

 Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở 11 phố Darthe. Ảnh tư liệu
 Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 - Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao

Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, cả thế giới đã ca ngợi tài trí ngoại giao của Lê Đức Thọ. Hình ảnh, danh tiếng của ông tràn ngập trên các trang báo lớn của Mỹ, phương Tây và nhiều nước khác. Vì vậy, năm 1973, Ủy ban Giải thưởng Nôben đã quyết định trao giải thưởng Nôben hòa bình cho ông. Nhưng ông đã từ chối.

 Kissinger bắt tay Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu
 

Trong cuốn sách “Ở Nhà Trắng” xuất bản năm 1979, Kítxinhgiơ đã viết về đồng chí Lê Đức Thọ: “Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một vài lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng một cách khéo léo và tận tụy”. 

 Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trao tặng bút cho tiến sĩ Kissinger sau khi hai bên ký tắt "Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" ngày 23/1/1973. Ảnh: Văn Lượng-TTXVN 
 
Trong cuốn “Không hòa bình, không danh dự”, Larry Berman, Giáo sư Trường Đại học California viết: “Khi xuất hiện trước công chúng, Lê Đức Thọ với mái tóc muối tiêu, cao 1m70, luôn luôn mặc bộ quần áo màu đen may theo kiểu Mao Trạch Đông. Dưới cái bề ngoài tươi cười là một con người cách mạng sắt đá. Các cán bộ dưới quyền của ông gọi ông là ông “Sáu Búa””. 
 
Với Hiệp định Pari 1973, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho Mỹ cút” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”. 
 

Tháng 3/1975, với đòn đánh vào Buôn Ma Thuột, quân và dân ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, mở ra khả năng quét sạch quân ngụy Sài Gòn ngay trong năm 1975. Trước thời cơ và chiến lược vừa được mở ra, cuối tháng 3/1975, đồng chí Lê Đức Thọ vào chiến trường mang theo ý chí sắt đá của Bộ Chính trị quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam và trực tiếp cùng Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam lãnh đạo, chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng. 

 Đồng chí Lê Đức Thọ trên đường hành quân trong Chiến dịch Hồ Chí Minh 4/1975. Ảnh tư liệu

Sau khi đất nước thống nhất, đồng chí được phân công làm Phó ban đại diện của Đảng và Chính phủ để ổn định tình hình miền Nam và phụ trách công tác đặc biệt. Từ năm 1978, đồng chí được phân công trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh bảo vệ  Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp cách mạng Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn pốt – Iêng Xari. 

 Đồng chí Lê Đức Thọ gặp gỡ các đại biểu về dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh năm 1976. Ảnh tư liệu
 
Từ năm 1980 đến năm 1986, đồng chí được cử giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Hiệu trưởng trường Chính trị đặc biệt; Bí thư Thường trực phụ trách công tác tư tưởng, nội chính, ngoại giao; Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Đảng; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Thọ đã đem hết tâm sức, tài năng, trí tuệ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Đảng và Nhà nước đã tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng (20/9/1990) và nhiều Huân chương cao quý khác. Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng đồng chí Huân chương Cách mạng Tháng Mười. Đảng và Nhà nước Campuchia tặng đồng chí Huân chương Ăngco.
 
Cuộc đời hoạt động kiên cường, năng động, sôi nổi với tinh thần lạc quan cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, về tinh thần quốc tế cao cả. Đồng chí xứng đáng là “một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. 
 
 
 

Nguồn: Thanh Tâm
26-01-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s