Thượng tướng Trần Văn Quang


15-12-2016
Thượng tướng Trần Văn Quang (1917-2013) tên thật là Trần Thúc Kính, bí danh: Bảy Tiến, quê làng Kim Khê Trung, tổng Kim Nguyên (nay là xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), thường trú tại số nhà 60, phố Trúc Khê, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.


Đồng chí sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, có 5 anh em đều giữ những cương bị, trọng trách lớn trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước thời kỳ đầu của cách mạng. Đồng chí là em trai của nhà hoạt động cách mạng Trần Văn Cung, một trong bảy người sáng lập và là Bí thư Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở nước ta.

Từ năm 1935, đồng chí tham gia Hội Ái hữu hoạt động ở địa phương. Tháng 10/1936, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Năm 1937, đồng chí là Huyện ủy viên Nghi Lộc (Nghệ An).

 
Thượng tướng Trần Văn Quang

Từ năm 1938 đến năm 1939, đồng chí là Thành ủy viên Sài Gòn – Chợ Lớn, hoạt động trong phong trào công nhân xe lửa, thợ máy, thợ giặt. Năm 1939, bị thực dân Pháp bắt giam. Tháng 10/1940, đồng chí vượt ngục về hoạt động ở Nghệ An, được Xứ ủy trao nhiệm vụ tổ chức Đảng bộ tỉnh Nghệ An.

Tháng 4/1941, đồng chí bị bắt lần thứ 2 và bị kết án tù chung thân, đày đi Buôn Ma Thuột. Tháng 6/1945, đồng chí ra tù, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nghệ An, được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách Ủy viên quân sự. Từ tháng 12/1945 đến tháng 3/1946, đồng chí làm Chính trị viên Khu 4. Sau đó, đồng chí được Bác Hồ và Trung ương Đảng tin tưởng giao trọng trách làm Chính ủy Bộ Chỉ huy Tiếp phòng quân.

Năm 1950, đồng chí là Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 304. Tháng 6/1951, đồng chí được chuyển về giữ chức Cục trưởng Cục Địch vận/ Tổng cục Chính trị. Tháng 8/1953, đồng chí được điều chuyển sang giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến/ Bộ Tổng tham mưu. Đầu năm 1959, đồng chí được bổ nhiệm  Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1961, đồng chí được chỉ định vào Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) và được Trung ương điều vào Nam, giữ chức Trưởng ban Quân sự Miền, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam. Năm 1965, đồng chí là Tư lệnh Quân khu 4. Từ năm 1966-1975, đồng chí là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, Bí thư Quân khu ủy, Bí thư Khu ủy Trị Thiên. Tháng 4/1974, đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng.

Tháng 1/1976, đồng chí trở về làm Tổng Tham mưu phó, đến tháng 11/1977, được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 6/1978, đồng chí giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Binh đoàn 678 – Binh đoàn Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Tháng 2/1981, đồng chí tiếp tục giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 12/1984, đồng chí được thăng quân hàm Thượng tướng.

Tháng 11/1992, đồng chí là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, đến năm 2002 chính thức nghỉ hưu.

Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huy hiệu 75 tuổi Đảng; cùng nhiều Huân, Huy chương, danh hiệu, phần thưởng cao quý khác.
 

Nguồn: Hà Bách
15-12-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s