Trung tướng Vương Thừa Vũ


04-04-2016
Trung tướng Vương Thừa Vũ, tên thật là Nguyễn Văn Đồi (1910-1980), quê ở làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội).


Thuở nhỏ, ông theo cha sang Vân Nam, Trung Quốc sinh sống; lớn lên, làm thợ hỏa xa và năm 1937 học Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1940, ông về nước, tổ chức hoạt động cách mạng. Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam, năm 1942 bị đày tại Trại giam Bá Vân, Thái Nguyên. Được những người Cộng sản vận động, ông tham gia công tác binh vận, phụ trách huấn luyện quân sự trong tù. Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, đang bị giam tại Nghĩa Lộ, Yên Bái, ông đã cùng các bạn tù phá ngục, dự định tổ chức bạo động cướp chính quyền nhưng không thành, ông về Bắc Ninh xây dựng cơ sở cách mạng, huấn  luyện quân sự.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, ông được giao nhiệm vụ tiếp quản, phụ trách tổ chức và chỉ huy lực lượng Bảo an binh ở Hà Nội. Trước tình hình quân Pháp liên tiếp khiêu khích, gây xung đột cục bộ, từ tháng 11/1946, Ủy ban Bảo vệ thành phố được thành lập, ông được cử giữ chức Khu trưởng Khu 11 Hà Nội. 

Năm 1947-1948, ông là Khu phó Khu 4, Phân khu trưởng Phân khu Bình - Trị - Thiên. Năm 1948 ông được phong quân hàm Đại tá. Từ tháng 4/1949 đến năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên Đại đoàn 308 thành lập ngày 28/8/1949; chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5/1949), Đường 4 (10/1949); tham gia các chiến dịch: Biên Giới (10/1950), Trung Du (12/1950), Đông Bắc (2/1951), Hà Nam Ninh (5/1951), Hòa Bình (10/1951), Tây Bắc (10/1952), Thượng Lào (1/1953) và Điện Biên Phủ (3/1954). 

Ngày 28/9/1954, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội cùng Đại đoàn 308 về tiếp quản Thủ đô. 

Từ 1955-1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn; từ năm 1964 -1980, là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, ông còn kiêm chức Giám đốc Học viện Quân chính (1964), Tư lệnh Quân khu 4 (1971). Năm 1974, ông được phong quân hàm Trung tướng.

Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,...


Nguồn: Minh Nguyệt
04-04-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
s