Trung tướng Đàm Văn Ngụy


06-10-2016
Trung tướng Đàm Văn Ngụy (1927-2015), bí danh Văn Chung, quê ở xã Minh Khai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, trú quán: Tổ 32, cụm 4, phường Xuân La, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình Cách mạng.


Sớm giác ngộ và tham gia Cách mạng, tháng 7/1942, ông tham gia làm liên lạc dẫn đường, tiếp tế nuôi cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật ở địa phương. Nhiều lần ông cùng với du kích tham gia chiến đấu bảo vệ cán bộ, đưa những cán bộ đau ốm vào ẩn giấu trong rừng tránh sự lùng bắt của chính quyền thực dân Pháp. Trước khi nhập ngũ và trở thành Đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân, ông  là Hội viên của Việt Minh tỉnh Cao Bằng.

 
Trung tướng Đàm Văn Ngụy 

Tuy được triệu tập dự lớp huấn luyện chuẩn bị thành lập nhưng mãi đến tháng 1/1945, ông mới gia nhập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 5/1945, lực lượng giải phóng quân đánh Đồn Pò Mã (Thất Khê), khi nổ súng bọn địch co cụm vào lô cốt cầm cự. Đàm Văn Ngụy xung phong cùng hai đồng chí khác tiến lên chọc thủng mái (bằng đất) ném lựu đạn vào, 30 tên địch hốt hoảng mang súng ra hàng.   

Năm 1946, trong trận phòng ngự ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, ông nhận nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội chiếm một mỏm núi ở đầu phố, chặn giữ địch cho các đơn vị và cơ quan Việt Minh địa phương rút ra ngoài, đánh lui 4 đợt phản kích của địch.

Cuối năm 1946, gần 1 tiểu đoàn địch bao vây trung đội ông ở Cơn Pheo (Lạng Sơn), Đàm Văn Ngụy nhận lệnh chỉ huy tiểu đội đánh cản địch và rút sau cùng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông dẫn tiểu đội vượt qua một cánh đồng tới chân núi thì bị 2 đại đội địch chặn đường bao vây. Ông đã bình tĩnh chỉ huy tiểu đội bố trí, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, giữ vững trận địa từ trưa đến tối, sau cùng chúng phải rút.

Tháng 4/1947, đơn vị ông phục kích đánh đoàn xe địch ở Bó Củng (Lũng Vài). Khi có lệnh, ông trực tiếp dẫn tiểu đội xung phong dùng lựu đạn diệt xe thiết giáp của địch. Tháng 9/1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và chính thức trở thành Đảng viên tháng 3/1948.

Tháng 8/1949, đơn vị ông phục kích đoàn xe địch ở Lũng Vài. Khi đoàn xe địch gồm 70 chiếc lọt vào trận địa, ông dẫn đầu trung đội xung phong, đánh chia cắt đội hình phía sau quân địch, diệt 20 tên, làm cho chúng rối loạn, tạo điều kiện cho đơn vị tiến công diệt nhiều xe và lính địch.

Tháng 8/1949, Trung đoàn 174, còn gọi là Trung đoàn Cao – Bắc – Lạng, ra đời. Ông được điều động làm cán bộ trung đội thuộc Tiểu đoàn 249 của trung đoàn này. Từ tháng 7/1952 đến tháng 1/1953, ông được phân công theo học Khóa 7 Trường Lục quân Việt Nam, kết thúc khóa học, ông được phân công làm Đại đội phó, rồi Đại đội trưởng Trung đoàn 176, Đại đoàn 316. 

Tháng 1/1953, đơn vị ông đang di chuyển đội hình để bao vây tiến công Nà Sản (Sơn La) thì bị một đại đội biệt kích địch bất ngờ đánh vào bộ phận quân y đang di chuyển phía sau. Trên cương vị Quản trị trưởng, ông đã nhanh chóng tập hợp và tổ chức lực lượng luồn rừng truy kích bọn địch hơn 6 tiếng đồng hồ, diệt 14 tên địch, bắn bị thương nhiều tên khác.     

Trong chiến dịch Thu Đông 1953-1954, ông là cán bộ chỉ huy đại đội, đánh nhiều trận tiễu phỉ ở biên giới Việt - Lào, diệt được nhiều toán phỉ, bảo đảm an ninh biên giới, đồng thời vận động 70 lính phỉ buông súng trở về.  

Từ tháng 6 năm 1954, ông đảm nhiệm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 11. Ngày 7/5/1956, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi đó, ông là Tiểu đoàn phó, phụ trách Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 176, Đại đoàn 316, Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam.

Tháng 3/1957, ông được phân công theo học Trường Quân sự Trung cao Nam Kinh (Trung Quốc). Từ tháng 2/1960, ông được bổ nhiệm là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 316. Đầu năm 1962, ông tham gia chiến đấu tại Mặt trận Thượng Lào,  với cấp hàm là Đại úy. Năm 1964, khi Lữ đoàn 316 được nâng lên cấp sư đoàn, ông được phân công giữ chức vụ Trung đoàn phó. Tháng 10/1965, ông được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, với cấp hàm Thiếu tá.

Từ tháng 3/1967, ông cùng Trung đoàn 174 được điều động vào Nam tham chiến đấu tại Chiến trường Tây Nguyên, trở thành nòng cốt để thành lập Sư đoàn 1, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 7/1968, ông chỉ huy trung đoàn tham gia đợt 3 tổng tiến công tại chiến trường Tây Ninh - Dầu Tiếng. Tháng 10/1968, trung đoàn hành quân về Phước Long củng cố và được biên chế vào đội hình của Sư đoàn 5, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, vẫn do ông làm Trung đoàn trưởng, rồi Sư đoàn phó Sư đoàn 5.

Đầu năm 1972, ông được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, chỉ huy sư đoàn tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ.

Từ tháng 10/1973, ông làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, ông chỉ huy Sư đoàn vào giải phóng Buôn Mê Thuột, giải phóng Trảng Bàng, Củ Chi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ tháng 7/1976 đến tháng 12/1977, ông là Phó Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị . Từ tháng 1/1978, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu 1. Ngày 16/7/1979, Quân đoàn 8 (sau đổi phiên hiệu thành Quân đoàn 26), tức Binh đoàn Pắc Bó thuộc Quân khu 1 được thành lập, gồm các Sư đoàn bộ binh 311, 322, 346; Trung đoàn pháo binh 188; Trung đoàn phòng không 814; Trung đoàn công binh 522. Ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh quân đoàn và chỉ huy quân đoàn tham GIA Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Sau chiến tranh, ông được thăng hàm Thiếu tướng (tháng 1 năm 1980), rồi Trung tướng (tháng 12 năm 1984).

Đến tháng 4/1987, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 1, Bí thư Đảng ủy và giữ chức vụ này đến tháng 12/1996 thì nghỉ hưu.

Do có nhiều công lao, đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (hạng Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng,…, Huân chương Tự do hạng Nhất do Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trao tặng.  


Nguồn: Hà An
06-10-2016
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s