Đại tướng Lê Trọng Tấn


17-03-2015
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914 - 1986), tên thật là Lê Trọng Tố, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914 tại làng Yên Nghĩa, thôn An Định, xã Nghĩa Lộ, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).


Xuất thân trong một gia đình nhà giáo, thời niên thiếu ông theo học trường Bưởi ở Hà Nội. Ông gia nhập lực lượng lính khố đỏ, phục vụ tại khu vực đồn trú gần sân bay Tông (Sơn Tây). Là một thanh niên tiến bộ nên khi được giác ngộ, ông đã từ bỏ bộ quần áo nhà binh Pháp để trở thành một chiến sĩ cách mạng. Tham gia Việt Minh từ năm 1944 và là ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông từ tháng 8 năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, cuộc đời và sự nghiệp quân sự của ông luôn gắn liền với quá trình xây dựng và chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ một đọi quân du kích trở thành một đội quân chính quy, từ đơn thuần bộ binh trở thành một quân đội gồm nhiều quân binh chủng.

Từ năm 1945 đến năm 1950, Lê Trọng Tấn là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn: Sơn La (E148), Sơn Tây (E37); Khu trưởng Khu 14, Khu phó Khu 10. 

Ngày 16 tháng 4 năm 1949, ông tham gia buổi Lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Liên khu 10. Ông là chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào, tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Cánh đồng Chum.

Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7/1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch thắng lợi, tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên.
Tháng 9 năm 1950, ông được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Biên giới nhằm khai thông  đường chi viện các nước xã hội chủ nghĩa với Việt Nam, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy đã đánh trận mở màn vào cao điểm Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960, ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục Quân. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962, ông giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1964, tướng Lê Trọng Tấn nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam với bí danh Ba Long. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

Năm 1971, ông là Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720). Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh Chiến dịch Trị Thiên. Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết thắng), là Quân đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1974, ông được phong quân hàm Trung tướng. Tháng 3 năm 1975, ông là Tư lệnh Chiến dịch Trị Thiên - Huế. Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, Sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn.

Sau ngày đất nước giải phóng, ông tiếp tục được giao đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng: Năm 1976-1977, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao; Tháng 12/1978-1979, ông là Tư lệnh Mặt trận Tây Nam trong chiến tranh biên giới Tây Nam.

Năm 1980, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Từ năm 1980 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Năm 1984, ông được phong quân hàm Đại tướng.

Đại tướng Lê Trọng Tấn mất ngày 5 tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội, thọ 72 tuổi.
Trải qua 30 năm trên các chiến trường, trên nhiều cương vị, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã trở thành “một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại”. Ông là vị tướng rất nghiêm khắc, thẳng thắn, nhưng cũng rất bao dung, biết đánh nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng, được đồng đội, cán bộ, chiến sĩ hết lòng tin tưởng, mến yêu. Với những cống hiến của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng (truy tặng năm 2007), Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương khác./.


Nguồn: Trường Giang
17-03-2015
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
BẢO VẬT QUỐC GIA
THƯ VIỆN Video
s