Tỉn Keo – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra những chỉ đạo quan trọng dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (Phần 2)


16-09-2018
Tỉn Keo là nơi đã chứng kiến những hoạt động và chỉ đạo quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đến thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trang tin điện tử Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trân trọng giới thiệu với quý độc giả bài viết để tìm hiểu thêm về di tích này.

4. Ngày 4/7/1948, Bác họp Đảng đoàn để giải quyết một số việc quan trọng trước khi Chính phủ họp thảo luận về thành lập Hội đồng Quốc phòng, hợp nhất Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy; cử Thứ trưởng Tuyên truyền trong Phủ Chủ tịch.

Ngày 5/7, Bác chủ trì phiên họp của Chính phủ để đánh giá tình hình thế giới và trong nước, kiểm điểm hoạt động của các bộ. Tại phiên họp, Bác được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao.

5. Ngày 9/8/1948, Bác đến thăm và nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm. Bác đã nhấn mạnh đến tư cách của cán bộ chỉ huy: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Người căn dặn: “với kỷ luật... thưởng phạt phải công minh..., với binh sĩ... phải biết rõ và hết sức chăn nom, phải đồng cam cộng khổ; với dân, phải làm cho bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục; với kẻ thù, tuyệt đối không được khinh địch... phải biết rõ chúng và phải hết sức giữ bí mật”. Ngày 12/8, Bác dự Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ năm, bàn về phối hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với dân quân du kích. Bác nói chuyện với Hội nghị về hai vấn đề: Cán bộ cần nêu cao tinh thần tự kiểm điểm và phê bình; cán bộ và thi đua yêu nước, đồng thời xác định nhân tố cốt yếu bảo đảm thắng lợi cho công cuộc kháng chiến là đại đoàn kết.

Ngày 17/8/1948, Bác chủ trì họp Hội đồng Quốc phòng tối cao, sau đó họp Hội đồng Chính phủ để nghe báo cáo một số vấn đề tiếp tế cho miền ngược, chuẩn bị đối phó với cuộc tấn công Thu - Đông của quân Pháp. Trong tháng 8, Bác ký ban hành sắc lệnh về thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao và sắc lệnh ấn định những quyền lợi đặc biệt cho người ngoại quốc giúp vào công cuộc kháng chiến.

Ngày 12/9/1948, Bác quay trở lại địa điểm ở Lũng Tẩu, Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang kết thúc hơn 100 ngày sống và làm việc tại Tỉn Keo.


Một số hạng mục tại đồi Tỉn Keo.

Lần ở thứ hai: Cuối năm 1953.

Năm 1953, cuộc kháng chiến, kiến quốc của chúng ta bước sang năm thứ tám. Qua bảy năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta càng đánh càng mạnh, càng thắng; quân Pháp càng tiếp tục gây chiến tranh thì càng lún sâu vào thế bị động và thất bại.

Để cứu vãn tình thế đó, được sự đồng ý của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Nava sang Đông Dương thay cho tướng Xalăng làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Nava là vị tướng được giới quân sự Pháp đánh giá là có tài. Ngày 7/5/1953, Nava có mặt tại Sài Gòn. Chỉ hơn một tháng nghiên cứu tình hình, Nava đã đưa ra một kế hoạch quân sự bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng - được gọi là Kế hoạch Nava. Kế hoạch Nava thực hiện theo 2 bước:

Bước 1, trong Thu - Đông năm 1953 và mùa Xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc; tập trung xây dựng lực lượng quân cơ động mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ (khoảng 84 tiểu đoàn); thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam nhằm chiếm 3 tỉnh tự do ở đồng bằng Liên khu 5; tập trung xây dựng ngụy quân và đội quân cơ động lớn, đủ sức đánh bại chủ lực của ta.

Bước 2, từ Thu - Đông năm 1954, sau khi đã hoàn thành những mục tiêu trên, Nava sẽ dồn toàn bộ lực lượng ra Bắc tiến công chiến lược trên các chiến trường chính giành thắng lợi quyết định về quân sự, buộc ta phải chấp nhận những điều đình theo điều kiện của Pháp. Nếu không, quân cơ động Pháp sẽ tập trung nỗ lực đè bẹp chủ lực ta.

Trước âm mưu mới của địch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với đồng chí Vi Quốc Thanh - Cố vấn quân sự Trung Quốc lên Khuôn Tát gặp Bác báo cáo tình hình và xin ý kiến chỉ đạo. Sau khi nghe trình bày kế hoạch của địch, Bác nói: Nava rất nhiều tham vọng, muốn giành chiến thắng lớn về quân sự. Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào thế bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán mà đánh. Tư tưởng chỉ đạo của Bác đã được Bộ Tổng tham mưu và Tổng Quân ủy lĩnh hội, phác thảo kế hoạch tác chiến cho chiến cục Đông - Xuân 1953-1954 với 4 nhiệm vụ: Một là, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch hậu nhằm phá tan âm mưu bình định của địch, phá kế hoạch mở rộng ngụy quân; hai là, bộ đội chủ lực dùng phương thức hoạt động thích hợp tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, có thể tác chiến lớn trên chiến trường đồng bằng để rèn luyện bộ đội; ba là, có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra vùng tự do; bốn là, tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc, Thượng Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.


Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và mở chiến dịch Điện Biên Phủ - Ảnh TL BTLSQSVN.

Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị triệu tập Hội nghị bàn về kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954 tại lán Tỉn Keo. Bộ Chính trị đã cho nhiều ý kiến về bản kế hoạch của Tổng Quân ủy và nhấn mạnh phương châm tác chiến “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Bác kết luận: Tổng Quân ủy phải có một kế hoạch lâu dài về mọi mặt để đối phó với kẻ địch trên chiến trường toàn quốc, sau đó phải có kế hoạch đẩy mạnh những hoạt động du kích tại đồng bằng Bắc Bộ. Về hướng hoạt động lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa.

Thực hiện kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954, từ hạ tuần tháng 11/1953 đến đầu năm 1954, quân ta đã chủ động mở các chiến dịch lớn đánh vào 4 hướng trọng yếu của địch là Tây Bắc, Trung Lào, Thượng Lào và Tây Nguyên, buộc Nava phải điều động quân cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ tăng cường, kế hoạch tập trung binh lực của Nava ở đồng bằng Bắc Bộ bị phá sản.

Với vị trí chiến lược quan trọng của Điện Biên Phủ, sau khi cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, Nava đã xây dựng ở đây một tập đoàn quân cơ động mạnh. Điện Biên Phủ trở thành trận quyết chiến chiến lược giữa ta và quân đội Pháp.

Ngày 6/12/1953, Bác và Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại cuộc họp này, Bác đã chỉ rõ tầm quan trọng của chiến dịch, nó là trận quyết chiến chiến lược của ta và địch, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự mà còn cả về mặt chính trị, vì lúc này Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng chuẩn bị sang Giơnevơ (Thụy Sỹ) dự hội nghị bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương. Chúng ta cần có một chiến thắng lớn để đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ địch. Người chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến dịch này rất quan trọng không những về mặt quân sự mà còn cả về mặt chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân và toàn Đảng phải tập trung làm cho kỳ được. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.

Tư tưởng chỉ đạo của Bác đã giúp cho Tư lệnh, kiêm Chính ủy Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một quyết định sáng suốt thay đổi cách đánh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với tinh thần “đánh chắc, tiến chắc”, sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng tại Điện Biên Phủ, quân dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp chưa từng có ở Đông Dương, làm nên một chiến thắng “chấn động địa cầu”. Cùng với những chiến thắng trên toàn chiến trường Đông Dương đã buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ vào ngày 21/7/1954, chấm dứt chiến tranh và công nhận độc lập, chủ quyền của ba nước Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh để thống nhất đất nước. Nói về tầm quan trọng của quyết định thay đổi phương châm tác chiến, trong lễ kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1964). Nhiều tướng lĩnh, sĩ quan tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ đã tâm sự: Nếu không có quyết định thay đổi cách đánh của chiến dịch thì không biết chúng ta (những đồng chí tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ) có còn được gặp nhau tại đây không? Và không biết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta còn phải kéo dài thêm bao lâu nữa?

Qua những tài liệu lịch sử trên có thể khẳng định: Di tích Tỉn Keo là nơi đã chứng kiến những hoạt động và chỉ đạo quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đến thắng lợi của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đây là một trong những di tích đặc biệt quan trọng liên quan đến cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chiến khu Việt Bắc nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

(Hết)./.


[1] Phó Trưởng phòng Trưng bày – Tuyên truyền, Bảo tàng LSQS Việt Nam.


Nguồn: Thiếu tá, ThS Nguyễn Tiến Dũng[1]
16-09-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s