Bảo tàng LSQS Việt Nam: Từng bước số hóa hiện vật phim, ảnh tư liệu lịch sử


17-05-2018
Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, khai thác thông tin tư liệu, hình ảnh, hiện vật là một việc làm hết sức cần thiết trong công tác bảo tàng, tạo điều kiện cho việc quản lý, khai thác thông tin nhanh chóng, chính xác, khoa học và hiệu quả. Đối với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, công nghệ thông tin đang được ứng dụng mạnh mẽ, đặc biệt trong việc từng bước số hóa hiện vật phim, ảnh tư liệu lịch sử.

Hiện nay, Bảo tàng LSQS Việt Nam đang quản lý gần 14 vạn hiện vật gồm các chất liệu khác nhau như: kim loại, giấy, bông, vải, sợi… trong đó, đáng chú ý là hiện vật phim ảnh. Phim, ảnh tư liệu lịch sử trong bảo tàng là 13.839 phim chiếm 10% tổng số hiện vật. Loại hình hiện vật này được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng về cơ bản đều từ những nguồn chính sau: Báo Quân đội nhân dân, Điện ảnh quân đội hoặc nguồn tư liệu của bảo tàng.

Trong đó có các bức ảnh quan trọng đánh dấu một sự kiện lịch sử tiêu biểu của đất nước như: Ảnh đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc diễn từ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ở khu rừng Trần Hưng Đạo, ngày 22/12/1944 của nghệ sỹ Vũ Năng An; ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Đại đoàn quân tiên phong (Sư đoàn 308) tại Đền Giếng (Đền Hùng), năm 1954 của nghệ sỹ Đinh Đăng Định; ảnh nữ dân quân Hà Thị Nhiên kéo xác máy bay F-4 của Mỹ trên bờ biển Hải Thịnh (Nam Định) năm 1967 của Quang Sáng; hay phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính với loạt ảnh chiến dịch Quảng trị năm 1972; ảnh của bà phóng viên hãng AFP (người Pháp) Phờ-răng-xoa Đờ-muyn đơ chụp khoảnh khắc hai xe tăng 843 và 390 húc cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 và hàng vạn hiện vật phim, ảnh tư liệu khác.

Với tầm quan trọng của mỗi bức ảnh mang lại, do đó hàng năm cán bộ kiểm kê của Bảo tàng LSQS Việt Nam đã phục vụ nhiều lượt khách là những nhà làm phim, những nhà nghiên cứu, giáo viên, sinh viên, học sinh tìm hiểu, giảng dạy môn lịch sử, gần đây nhất là chương trình “Giai điệu tự hào” của Đài truyền hình Việt Nam đến nghiên cứu, khai thác phim ảnh tư liệu.


Hội đồng khoa học nghiệm thu phần mềm, tháng 6/2016.

Phim ảnh thường phản ánh những “khoảnh khắc” có thực trước ống kính, được coi là bằng chứng cho thấy rõ đối tượng, một sự kiện hiện tượng nào đó đã tồn tại và hiện diện vào thời điểm ống kính thu nhận được. Những sự kiện lịch sử đã được đưa vào ống kính và sau đó ở bất cứ thời điểm nào dù là một tháng, một năm hay nhiều năm về sau người xem dường như được trực tiếp chứng kiến diễn biến của sự kiện, theo thời gian hình ảnh của những sự kiện đó vẫn tồn tại.

Có thể coi đó là những chứng cứ lịch sử xác đáng, là những giá trị, những thành tựu cần được lưu giữ để truyền lại cho thế hệ mai sau. Khẳng định tầm quan trọng của phim ảnh, ngay từ năm 1980 trong công bố khuyến cáo về vấn đề lưu giữ và bảo tồn phim ảnh, UNESCO đã xác định: “Tài liệu phim, ảnh là loại hình di sản đặc biệt quý giá không những của mỗi dân tộc mà của cả nhân loại, mỗi quốc gia cần phải đầu tư, tổ chức bảo tồn thật tốt cho các thế hệ mai sau”[1].

Tại Bảo tàng LSQS Việt Nam ngay từ năm 2014, bước đầu thực hiện Dự án Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở vị trí mới, Bảo tàng đã xây dựng nhiều dự án thành phần, trong đó có “Tư liệu hóa, số hóa hiện vật bảo tàng”. Nội dung đề án đặt ra yêu cầu từng bước tư liệu hóa, số hóa tài liệu hiện vật của bảo tàng nhằm giúp cho việc quản lý, tra cứu nhanh chóng, kịp thời thuận lợi hơn cho việc phục vụ trưng bày mới của bảo tàng. Thực hiện nhiệm vụ đó, ngay đầu năm 2016, Bảo tàng đã triển khai kế hoạch viết phần mềm “Quản lý tra cứu phim, ảnh tư liệu lịch sử”. Phần mềm này được bảo tàng kết hợp với Công ty cổ phần Công nghệ viễn thông và ứng dụng tin học sản xuất. Sau thời gian 6 tháng làm việc miệt mài, các kỹ sư công nghệ thông tin và cán bộ kiểm kê của bảo tàng đã phối hợp nhập dữ liệu 200 phiếu ảnh để chạy thử, hiệu đính sửa chữa, vận hành, sau đó bảo vệ và thông qua Hội đồng nghiệm thu của bảo tàng phần mềm “Quản lý tra cứu phim, ảnh tư liệu lịch sử”.


Mẫu phiếu ảnh trước và sau khi được số hóa - Ảnh BTLSQSVN.

Phần mềm giúp người quản lý, khai thác có thể nhận biết được những thông tin cơ bản như: Số lượng phim, ảnh gốc? Tác giả? Thời gian chụp? Thông tin sự kiện, bối cảnh của bức hình… Ngoài ra, có thể thống kê và trích xuất dữ liệu tiện lợi cho việc khai thác, tra cứu.

Phần mềm này cho phép người sử dụng scan ảnh trực tiếp thông qua ảnh mẫu hoặc scan phim (màu hay đen, trắng) rồi lưu giữ thẳng vào phần mềm. Điều này, giúp thao tác trong thời gian nhanh chóng và độ chính xác cao hơn so với việc chỉ cho phép nhập ảnh thông qua file có sẵn giống như các phần mềm khác. Ngoài ra, để giúp công tác kiểm kê thuận lợi hơn trong quản lý phim ảnh phần mềm còn thiết kế để in sổ đăng ký phim (in trên khổ giấy A3) như những sổ đăng ký phim của bảo tàng để in ra lưu trữ phòng khi máy tính gặp sự cố. Bên cạnh đó, phần mền cũng cho phép tính toán, thống kê làm các báo cáo biến động số lượng phim ảnh theo tháng, quý, năm… giúp cho công tác kiểm kê khoa học đi vào hiện đại và ngày càng nền nếp. Vì vậy, có thể coi đây là phần mềm đầu tiên trong công tác quản lý phim ảnh của hầu hết các bảo tàng trong và ngoài Quân đội.

Đối với vấn đề “bản quyền” và “bảo mật thông tin”, ngay từ khi lập trình phần mềm, các kỹ sư công nghệ thông tin đặt tiêu chí bảo mật, an toàn lên hàng đầu, được nhiều lần thử nghiệm trong quá trình đánh giá. Hiện nay, phần mềm cùng cơ sở dữ liệu về phim ảnh tư liệu lịch sử đang được Phòng Kiểm kê – Bảo quản vận hành và hoạt động ổn định giúp tra cứu, khai thác thuận lợi, nhanh chóng mang lại hiệu quả cao trong tác kiểm kê khoa học. Đây là một bước tiến cơ bản đánh dấu trong hành trình tiến tới “số hóa” của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Trong thời gian gần đây, số hóa nói chung và số hóa di sản văn hóa đã thực sự phát triển và ngày càng có những đóng góp tích cực vào trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống. Do vậy, việc số hoá hơn 12 vạn hiện vật còn lại của Bảo tàng LSQS Việt Nam đòi hỏi cần có lộ trình và những bước đi thích hợp để công nghệ thông tin kịp thời hỗ trợ và đồng hành cùng di sản văn hoá quân sự./.


[1] Ngô Hiểu Chi: Phim ảnh và hoạt động bảo tồn phim – Báo cáo khoa học, H 2002, tr 145


Nguồn: Hoàng Trung Hiếu
17-05-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s