Lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968


03-03-2018
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, quân và dân Tây nguyên đã đồng loạt nổ súng đánh vào hầu hết cơ quan đầu não và căn cứ quan trọng của địch ở khắp các tỉnh, làm chủ một số địa bàn quan trọng trong nhiều ngày, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn lực lượng địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy. Chiến thắng đó đã tạo ra cục diện mới của phong trào cách mạng ở Tây Nguyên, đẩy địch lún sâu vào thế bị động; góp phần quan trọng đưa cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn mới.

Tháng 12/1967, Bộ Chính trị đã họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới”, “...động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền đ­ưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định...”. Chủ trương này đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (tháng 1/1968) thông qua.

Sau 1 tháng chuẩn bị, 0 giờ ngày 30/1/1968, qua bài thơ chúc tết vang vọng núi sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân trên toàn miền Nam đồng loạt nổ súng, tiến công vào các căn cứ quan trọng của Mỹ, nguỵ như sân bay, kho tàng, bến cảng ở 5 trên 6 thành phố, 37 trên 44 thị xã, 64 trên 242 thị trấn Quận lỵ, đã tiêu diệt và làm tan rã hàng vạn tên Mỹ, ngụy.

Đối với Mặt trận Tây Nguyên (B3), Quân uỷ Trung ư­ơng và Bộ Tổng Tư­ lệnh giao nhiệm vụ: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, nguỵ; thu hút kiềm chế địch, phối hợp với chiến tr­ường toàn miền Nam; giải phóng thị xã Kon Tum và Buôn Ma Thuột, khi có thời cơ và điều kiện thuận lợi thì giải phóng Pleiku.

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên ra quyết tâm: Tập trung đại bộ phận Sư­ đoàn 1 trên hư­ớng Plei Kần - Tân Cảnh tiêu diệt một bộ phận sinh lực Mỹ, ngụy, thu hút thêm và giam chân lực lượng cơ động Mỹ, ngụy tạo điều kiện cho các h­ướng tiến công giải phóng thị xã. Trọng tâm là giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.


Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 12/1967 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Để hiệp đồng nổ súng đúng thời gian quy định và thống nhất trên toàn chiến trường, Th­ường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã quyết định thành lập ở mỗi tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk một Đảng ủy và Ban Chỉ huy gồm đại diện Đảng ủy Bộ Tư lệnh Mặt trận, Tỉnh uỷ, Tỉnh đội, các trung đoàn chủ lực tại địa ph­ương. Các Đảng ủy và Ban Chỉ huy trên đặt d­ưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

Tháng 1/1968, Mặt trận Tây Nguyên mở đợt tiến công cao điểm bằng lực l­ượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phư­ơng và dân quân du kích). Mục đích là: tiêu diệt sinh lực, phư­ơng tiện chiến tranh của địch, giam chân thu hút lực lượng Mỹ lên h­ướng đ­ường 18 - Plei Kần (phía Tây Bắc thị xã Kon Tum), kéo chủ lực của địch ra ngoài thị xã tạo điều kiện cho các lực lượng của ta áp sát mục tiêu, chuẩn bị bàn đạp, tập dư­ợt và rèn luyện bộ đội, đồng thời bảo đảm bí mật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968.

Trong đợt hoạt động cao điểm, trên hư­ớng Plei Kần, Sư­ đoàn 1 đánh nhiều trận nhỏ và vừa, bắn máy bay địch, giam chân 3 tiểu đoàn của Sư­ đoàn 4 và Lữ đoàn dù 173 Mỹ, giam chân Trung đoàn 42 và 1 tiểu đoàn dù quân nguỵ. Loại khỏi vòng chiến đấu 725 tên địch (có 565 tên Mỹ), bắn rơi 33 máy bay, phá hủy 26 xe quân sự, 7 pháo lớn, thu 37 súng và 3 vô tuyến điện.

Tại Kon Tum, ta áp sát thị xã đánh 3 trận tập kích và một số trận cắt giao thông trên đư­ờng 14, loại khỏi vòng chiến đấu 419 tên địch, bắt 43 tên, thu 60 súng, 4 vô tuyến điện, phá hủy 117 xe quân sự (có 18 xe bọc thép, bắn rơi 50 máy bay, phá hủy 3 pháo lớn, 1 cầu và khu chứa máy bay. Nổi bật nhất là trận đánh táo bạo của Tiểu đoàn đặc công 406 tỉnh Kon Tum trong đêm 10/1, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên Mỹ, phá hủy 30 máy bay trực thăng, 104 xe quân sự (có 7 xe tăng), sau đó tập kích địch tại ấp Krông diệt 1 đại đội bảo an, bắt 43 tên, thu 30 súng.


Bộ đội chủ lực và du kích Tây Nguyên họp bàn phối hợp đánh địch, năm 1968 - Ảnh Tư liệu Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên.

Tại Gia Lai, liên tiếp diễn ra các trận tập kích, phục kích của các đơn vị Trung đoàn 95 trên đư­ờng 19, đã tiêu diệt 150 tên địch, phá hủy 89 xe quân sự, đốt cháy 50 tấn xăng dầu. Tiểu đoàn đặc công 408 tập kích công binh xưởng, đã tiêu diệt 120 tên phá 2 khu cơ khí, 39 xe ủi, sau đó đánh sân bay địch, phá hủy 75 máy bay, 65 tấn đạn và đốt cháy 5 vạn lít xăng.

Trên h­ướng Đắk Lắk, Trung đoàn 33 và lực lượng vũ trang tỉnh đánh sân bay thị xã, tiêu diệt 70 tên Mỹ, phá hủy 20 máy bay, phá sập Dinh Tỉnh trư­ởng, pháo kích Sở chỉ huy Trung đoàn 45 nguỵ, phá 1.000 tấn bom đạn tại kho Mai Hắc Đế, tiến công Quận lỵ Lạc Thiện, diệt 2 đại đội bảo an và một số lực l­ượng khác của địch, bắt sống 20 tên, thu 57 súng, phá 6 xe quân sự, đặt mìn tại Phòng Tham m­ưu Sư­ đoàn 23 nguỵ, tiêu diệt một số tên sỹ quan, tập kích Quận lỵ Buôn Hồ.

Đợt hoạt động này là đợt diễn tập khá toàn diện và đạt kết quả quan trọng, đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.366 tên địch (có 1.608 tên Mỹ), bắt sống 88 tên, diệt gọn 7 đại đội (có 1 đại đội Mỹ), 1 chi khu; phá hủy 361 xe quân sự (có 62 xe bọc thép), 17 pháo lớn, trên 3.000 tấn bom đạn, xăng dầu; bắn rơi và phá hủy 198 máy bay, thu 205 súng các loại và 9 vô tuyến điện.

0 giờ 30 phút ngày 30/1/1968, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 174 tiến công và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân Tây Nguyên.

0 giờ 45 phút cùng ngày, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nổ ra ở Đắk Lắk, Trung đoàn 33 tiến công Quận lỵ Buôn Hồ, Tòa hành chính, đại đội vận tải, hậu cứ Trung đoàn 45. Các Tiểu đoàn đặc công 301, 401 và Đại đội 39 đánh vào khu pháo binh, sân bay thị xã, Sư­ đoàn 23 ngụy, tiểu khu Đắk Lắk, Đài phát thanh, khu cư­ xá Mỹ, ty ngân khố, sau đó đánh địch phản kích.

Trong 10 ngày đầu, quân và dân tỉnh Đắk Lắk đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 2.000 tên địch, bắt sống 90 tên (có 1 Tỉnh phó, 1 Nghị viện quốc hội nguỵ, 1 Đại uý FULRO), phá hủy 180 xe quân sự (có 15 xe bọc thép), 5 pháo lớn, bắn rơi và phá hủy 28 máy bay, đốt cháy 12 kho xăng dầu, bom đạn, thu 140 súng và 9 vô tuyến điện. Hơn 5.000 quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.


Bộ đội dùng thuyền vượt sông truy kích địch ở Tây Nguyên, năm 1968 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Phối hợp với đòn tiến công quân sự, hơn 18.000 nhân dân xuống đường biểu tình. Địch tổ chức đàn áp dùng máy bay ném bom vào đoàn người biểu tình, nhưng nhân dân Tây Nguyên đã đoàn kết, anh dũng, không sợ hy sinh, người trước ngã, người sau giương cao ngọn cờ độc lập tiếp tục tiến vào thị xã.

Ở Gia Lai, 0 giờ 55 phút ngày 30/1/1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nổ ra. Trung đoàn 95 tiêu diệt một đoàn xe địch 26 chiếc trên đường 19 không cho địch cứu viện cho Pleiku. Tiểu đoàn đặc công 408 đánh vào sân bay, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 nguỵ, khu biệt động quân ở Biển Hồ, phá hủy 45 máy bay trực thăng, 35 xe quân sự, gần 1.000 tấn đạn. Đại đội 90, Đại đội 21 và Tiểu đoàn 15 bộ đội tỉnh chiếm Tòa hành chính, khu cảnh sát Vùng 2, tỉnh đoàn bảo an, tiểu khu Pleiku, phá nhà lao Pleiku giải phóng gần 2.000 người bị địch giam cầm. Phối hợp với tiến công quân sự, hơn 25.000 quần chúng tỉnh Gia Lai xuống đường đấu tranh chính trị.

Trong đợt tiến công mở đầu Tết Mậu Thân 1968, quân và dân Gia Lai đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.500 tên địch (có 1.300 tên Mỹ), phá hủy 580 xe quân sự, 35 khẩu pháo, nhiều máy bay, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu.

Tại Kon Tum lúc 1 giờ 15 phút, cuộc tiến công nổ ra ở thị xã, hoả lực ĐKB, ĐKZ tiến công các mục tiêu trong thị xã, nhất là Biệt khu 24, Trung tâm huấn luyện sĩ quan, khu cư xá. Các Tiểu đoàn đặc công 406, 304 cải trang thành lính nguỵ đánh vào nhà hành chính, ty cảnh sát và tỉnh đoàn bảo an, sân bay thị xã, khu nhà lao và một số mục tiêu khác, sau đó đánh địch phản kích. Ở hướng Bắc Kon Tum, Sư đoàn 1 hoạt động mạnh ở Đắk Tô - Tân Cảnh thu hút địch. Trong đợt đầu tiến công, quân và dân Kon Tum đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.500 tên địch (có 650 tên Mỹ), phá hủy 253 xe quân sự (có 67 xe bọc thép), bắn rơi và phá hủy 37 máy bay, đốt cháy 5 kho xăng, làm nổ tung 3 kho đạn. Nhiều vùng ven thị xã quần chúng nổi lên phá “ấp chiến lược” giành quyền làm chủ.


Cuộc biểu tình của nhân dân các dân tộc Đắk Lắk kéo về thị xã, năm 1968 - Ảnh Tư liệu Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên.

Trong 10 ngày đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, quân và dân Tây Nguyên đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống nguỵ quân, nguỵ quyền trên cao nguyên, đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị quân Mỹ, nguỵ loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.000 tên địch trong đó có 1.600 tên Mỹ, bắn rơi, phá hủy 171 máy bay, 520 xe quân sự, 27 pháo lớn và nhiều trang bị chiến tranh khác.

Ngày 4/2/1968, Đại tư­ớng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen ngợi quân và dân Tây Nguyên: “... Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của quân dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân, dân thị xã Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku và vị trí Tân Cảnh”... Đồng thời chỉ thị:”... Hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, tiếp tục tiến công và phản công tiêu diệt địch nhiều hơn nữa... làm cho chúng tê liệt, đánh cho chúng không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành chính quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ...”.

Những lời khen ngợi động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp sức cho quân dân Tây Nguyên mở tiếp 4 đợt cao điểm tiến công địch: Đợt 1 diễn ra từ ngày 17/2 đến 25/2/1968; Đợt 2 diễn ra từ ngày 3/3 đến 15/3/1968; Đợt 3 diễn ra từ ngày 25/3 đến 15/4/1968; Đợt 4 diễn ra từ ngày 28/4 đến 25/5/1968.

Đến ngày 25/5/1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đầu năm 1968 ở Tây Nguyên đã kết thúc thắng lợi. Trong 115 ngày đêm (từ 30/1 đến ngày 25/5), quân và dân Tây Nguyên đã tổ chức thành công đợt tiến công Tết Mậu Thân và mở liên tiếp 4 đợt tiến công cao điểm đồng loạt, mãnh liệt vào 3 thị xã, thị trấn Tân Cảnh và một số Quận lỵ, đánh trúng tất cả các mục tiêu chủ yếu với thế bất ngờ, áp đảo, sau đó liên tục thế tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15 ngàn tên địch, trong đó có hơn 8 ngàn tên Mỹ, bắn rơi và làm bị thương 451 máy bay, phá hủy 1.332 xe quân sự, 65 pháo các loại, trên 50 kho tàng hơn 3.000 tấn bom đạn, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, thu 520 súng các loại và nhiều trang bị chiến tranh khác. Giải phóng hơn 2.000 ngư­ời khỏi lao tù và 55.000 dân ở 107 làng, ấp./.


Nguồn: Trần Danh Hiệp – Bảo tàng Binh đoàn Tây Nguyên
03-03-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
GIỜ MỞ CỬA
Sáng: Từ 08h00 đến 11h30
Chiều: Từ 13h00 đến 16h30
Các ngày:
Thứ Ba, Tư, Năm, Bảy, Chủ nhật
 

 Thời gian và Giá vé
 Quy định tham quan
 Sơ đồ tham quan
 Đường đến Bảo tàng
 Tham quan Bảo tàng 3D

s