Tráp đựng nhân sâm và chuyện Bác Hồ bị ốm


28-08-2018
Ngày 28/11/1994, trong một dịp đến thăm Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trao tặng một hiện vật đặc biệt gắn với thời điểm Bác Hồ bị ốm nặng ở Tân Trào vào tháng 7/1945. Đó là chiếc tráp gỗ đựng nhân sâm có số đăng ký 7662-G-176. Hiện vật tuy nhỏ nhưng đằng sau đó là câu chuyện về tấm lòng của người dân với Bác.

Lời dặn của Bác Hồ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: Tháng 7/1945, ở Tân Trào, Tuyên Quang, do điều kiện sống hết sức kham khổ, ăn uống đạm bạc, thiếu thốn lại làm việc quá sức không mấy lúc nghỉ ngơi nên Bác Hồ lâm bệnh nặng. Cũng vào thời điểm đó, cao trào kháng Nhật đang cuộn dâng từ Bắc vào Nam, các địa phương đang chuẩn bị mọi lực lượng chờ thời cơ khởi nghĩa. Ấy vậy mà đúng lúc “dầu sôi lửa bỏng” thì Bác lại ốm. Nhìn Bác đau yếu, tôi lo lắng vô cùng.

Hồi đó, tôi làm việc dưới làng Tân Lập, hàng ngày vẫn lên báo cáo tình hình với Bác. Đã mấy hôm bị sốt, song Người vẫn gượng làm việc. Khi tôi hỏi thăm, Bác chỉ nói: “Chú cứ xuống làm công tác, tôi không việc gì!”. Một hôm lên gặp, thấy Bác yếu nhiều, người hốc hác chỉ con da bọc xương mà lại sốt liên tục, hỏi ra thuốc men không có, chỉ có mấy viên thuốc cảm và ký ninh, Bác đã uống mà không thấy đỡ. Thường thì Người chỉ nằm vào lúc nghỉ, thế mà bây giờ chịu nằm, đầu nóng hầm hập, sốt miên man và có lúc mê sảng. Thấy vậy, tôi rất lo. Đêm đó, tôi nói xin ở lại, Bác mở mắt nhìn tôi và hơi gật đầu.


Lán Nà Nưa, nơi Bác Hồ nơi ở và làm việc trong khoảng thời gian từ cuối tháng 5 đến tháng 8/1945 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Đêm đó trên lán Nà Nưa, Bác vừa tỉnh, vừa mê. Mỗi khi nhớ ra điều gì, Bác lại dặn tôi. Thấy mình yếu quá, Bác có ý muốn dặn lại công việc. Người nói về củng cố phong trào: “Lúc nào cũng phải chú trọng xây dựng chi bộ, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên và phần tử trung kiên. Trong chiến tranh du kích, lúc phong trào lên, ta phải hết sức phát triển, vừa phát triển vừa chú trọng xây dựng căn cứ cho thật vững chắc, đề phòng lúc khó khăn mới có chỗ đứng chân”. Rồi Bác dặn: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Tôi hiểu tấm lòng khát khao cháy bỏng của Người đối với nền độc lập, tự do của dân tộc. Tôi hiểu việc đại sự rất gấp rồi. Hôm sau, tôi viết thư hỏa tốc về Trung ương báo cáo tình hình, chuẩn kế hoạch cho Tổng khởi nghĩa.

Tìm mọi cách chữa bệnh cho Bác Hồ

Đại tướng nói tiếp: Tôi cho anh em tìm hỏi bà con địa phương xem có thuốc men gì không để chữa bệnh cho Bác? Bà con nói gần đây có một ông lang chữa bệnh sốt nóng giỏi. Tôi cho người cưỡi ngựa đi đón ông thầy về. Ông lang già người Tày đến xem mạch, sờ trán Bác, rồi cho Bác ăn một thứ củ vừa đào trong rừng về, đem đốt cháy hòa vào cháo loãng. Bác tỉnh, hôm sau ăn thêm mấy lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần. Bác lại ngồi dậy làm việc được. Nhưng nói vậy, tôi thấy Bác vẫn còn yếu lắm…


Nhóm “Con Nai” chụp ảnh cùng Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp, năm 1945 - Ảnh BTLSQSVN.

Ngoài cụ lang người Tày, tôi còn cho người tìm y tá Nguyễn Việt Cường (tên thật là Nguyễn Đức Kính), sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ (xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Rồi mời cả cụ Lang Páo, người ở xóm Nà Lẹng (xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, Thái Nguyên) đến sắc thuốc uống và thuốc tắm để Bác đẩy lui căn bệnh sốt rét ác tính. Nhưng bệnh tình của Bác vẫn chưa dứt.

Thật may, đúng vào thời điểm đó, nhóm “Con Nai” của Hoa Kỳ nhảy dù xuống Tân Trào. Họ mang theo khá nhiều thuốc men tốt. Anh em đề xuất với tôi nói với Thomas, Trưởng nhóm cho người đến chữa bệnh cho Bác. Paul Hoagland, y sĩ của “Con Nai” được cử đến chẩn bệnh cho Bác và điều trị cho Bác bằng cách tiêm kháng sinh, uống thuốc ký ninh, thuốc trị đại tràng… Gặp thuốc tốt, Bác đã qua cơn trọng bệnh mười chết một sống.

Để tiếp tục hồi phục sức khỏe cho Bác, tôi quyết phải đi tìm các vị thuốc bổ có trong dân gian. Nghe tin ở Bản Cái (xã Thanh Định, huyện Định Hóa) có gia đình ông Ma Đình Tập và vợ là Ma Thị Mai có nhân sâm, tôi cho người đến tìm mua. Ông Tập khi đó làm Chánh tổng, nhà có của ăn của để từ thời các cụ để lại, trong đó có một vật được coi là vật báu gia truyền, là tài sản quý giá nhất của cả dòng họ Ma, đó là hộp sâm Cao Ly. Ông tích trữ nhân sâm phòng khi bệnh trọng.


Tráp đựng nhân sâm được lưu giữ và phát huy giá trị tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam - Ảnh BTLSQSVN.

Hôm đó, trời đã tối muộn, khi cả nhà ông Tập đang say giấc thì bỗng có tiếng gõ cửa. Ông Tập dậy mở cửa thì thấy có cán bộ đến hỏi mua sâm cho đoàn thể để bồi bổ sức khỏe cho một cán bộ thượng cấp. Ông bà đã tìm khóa mở chiếc hòm lấy ra chiếc tráp gỗ trong đó đựng nhân sâm. Trong tráp có một củ sâm nguyên vẹn dài khoảng 13cm và nửa củ sâm đang dùng dở. Không chút ngần ngại, gia đình đã trao toàn bộ số sâm để tặng cho “ông cán bộ cao tuổi” mà ông bà đoán là người rất quan trọng với cách mạng và không lấy tiền.

Nhờ có thuốc thang kịp thời và có nhân sâm bổi bổ, sức khỏe của Bác khá hơn. Ngày 13/8/1945, phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh, giờ Tổng khởi nghĩa đã đến. Ngày 14/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được tổ chức, Bác vừa dứt cơn sốt đã tới dự. Ngày 22/8/1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội, khi đó Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

Ngày 26/8/1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Bác triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập. Ngày 27/8/1945, Bác triệu tập cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng và được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 28 và 29/8/1945, Bác tới làm việc tại số nhà 12 phố Ngô Quyền - trụ sở của Chính phủ lâm thời. Bác dành phần lớn thời gian soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. Ngày 2/9/1945 diễn ra cuộc mít tinh vô cùng trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời.

Ngày trọng đại đó, tôi ghi nhớ suốt đời, không chỉ vì nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời mà còn vì một chuyện rất đáng phấn khởi là nhìn thấy bệnh tình của Bác đã dứt, Người đã khỏe lại để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang...


Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc
- Ảnh TL BTLSQSVN.

Chiếc tráp gỗ đến với Bảo tàng

Chuyện đã qua vài chục năm, một hôm có ông Ma Văn Tiến (nguyên Phó Chủ tịch lâm thời phủ Vạn Thắng năm 1945) đến xin gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Tiến mang theo chiếc tráp gỗ. Ông kể lại với Đại tướng: “Cả làng, cả bản năm này qua năm khác vẫn truyền tai nhau về chuyện ông Ma Đình Tập biếu nhân sâm cho Bác Hồ hồi Bác ở lán Nà Nưa bị ốm nặng. Bác Hồ từ chỗ ốm nặng đã hồi phục sức khỏe kịp thời phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Hai năm sau, ngày 5/7/1947, tại sân vận động Chợ Chu, gia đình ông Ma Đình Tập và bà Ma Thị Mai đã được Tổng bộ Việt Minh tặng đồng tiền vàng trên có hình Bác Hồ và chữ Tổ quốc ghi công”. Ông Tiến khẳng định được nghe và chứng kiến tất cả câu chuyện đó.

Vì vậy, ông Tiến muốn đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hồi tưởng lại chuyện xưa, mang chiếc tráp gỗ đựng nhân sâm mà gia đình ông Ma Đình Tập gửi biếu Đại tướng làm kỷ niệm. Ông chỉ xin Đại tướng xác nhận câu chuyện này để làm truyền thống lâu dài cho nhân dân địa phương. Ngày 28/11/1994, Đại tướng đã trao tặng Bảo tàng chiếc tráp gỗ cùng câu chuyện lời dặn của Bác Hồ và lòng dân Việt Bắc đối với Bác Hồ với Bộ đội Cụ Hồ./.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
28-08-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s