Sổ công tác của Đại tướng Lê Trọng Tấn


27-03-2019
Dịp kỉ niệm 45 năm ngày thành lập Binh đoàn Quyết thắng (Quân đoàn 1) (24/10/1973 - 24/10/2018), Bảo tàng Binh đoàn đã phát động phong trào sưu tầm, hiến tặng các kỉ vật gắn liền với các tướng lĩnh, các sự kiện quan trọng, các trận đánh tiêu biểu của các đơn vị để làm phong phú thêm nguồn tư liệu phục vụ các đoàn khách đến tham quan học tập.

Trong số các kỷ vật Bảo tàng tiếp nhận có Cuốn sổ công tác (BTQĐ1: 288) của Đại tướng Lê Trọng Tấn, người được mệnh danh là một trong 10 vị tướng chỉ huy đánh trận giỏi nhất Việt Nam, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp coi là “Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”. Kỷ vật được trao tặng bởi Nhà truyền thống Sư đoàn 312, nơi Đại tướng Lê Trọng Tấn là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi ông mới 36 tuổi.

Đại tướng Lê Trọng Tấn tên thật là Lê Trọng Tố, sinh ngày 1/10/1914 tại làng Nghĩa Lộ, thôn An Định (cũ), xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình nhà giáo. Thời niên thiếu được theo học tại trường Bưởi (Hà Nội), từng tham gia lực lượng lính khố đỏ của Pháp, đeo đến lon Đội (tương đương cấp Hạ sĩ), nên dân làng gọi ông là Đội Tố. Vào thời điểm đó, ông đã được bà Bích Vân (tức bà Hoàng Ngân), người phụ trách công tác phụ vận, kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc kì giác ngộ cách mạng. Năm 1945, Đội Tố tham gia Việt Minh và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Đông.


Cuốn sổ công tác của Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ảnh BT Binh đoàn Quyết thắng.

Từ năm 1945 đến năm 1950, ông giữ các cương vị: Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn: Sơn La, Sơn Tây, Quyền Khu trưởng Khu XIV, Khu phó Liên khu X. Sau khi quân đội ta thành lập các Đại đoàn chủ lực, ông được là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng). Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông đã chỉ huy Đại đoàn 312 đánh từ trận mở màn đến trận kết thúc chiến dịch, bắt sống tướng Đờ Cát (C. de Castries) cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc.

Từ năm 1954 đến năm 1963, ông giữ các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân; Phó Tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam. Từ năm 1971 đến năm 1973, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tư lệnh chiến dịch Đường 9 Nam Lào; Tư lệnh chiến dịch Trị Thiên; Phó Tổng tham mưu trưởng, kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1.


Cuốn sổ được ghi chép từ ngày 3/3 đến 8/4 năm 1950, khi Đại tướng Lê Trọng Tấn đang theo học lớp Lý luận Chính trị khóa II, trường Nguyễn Ái Quốc. Ảnh BT Binh đoàn Quyết thắng.

Tháng 3/1975, ông giữ chức Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng; Tháng 4/1975, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp chỉ huy các cánh quân chủ lực từ phía Đông dọc theo các tỉnh duyên hải miền Trung tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau ngày đất nước giải phóng, ông tiếp tục được giao đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng khác nhau. Ngày 5/12/1988, ông mất tại Hà Nội, thọ 72 tuổi. Với những cống hiến của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, ông đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Sao vàng năm 2007, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Cuốn sổ công tác của Đại tướng Lê Trọng Tấn, có kích thước 20x15cm, dày 244 trang giấy viết tay. Bìa ngoài bọc vải màu nâu, đã cũ sờn, ố rách. Xuyên suốt cuốn sổ là một loại chữ viết rất cương nghị, rắn rỏi, với lối ghi chép rất khoa học, các tiêu đề được gạch chân cẩn thận dù nhiều trang đã mờ, giòn nát do dấu vết của thời gian. Cuốn sổ được ghi chép từ ngày 3/3 đến 8/4 năm 1950, khi Đại tướng Lê Trọng Tấn đang theo học lớp Lý luận Chính trị khóa II, trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.)


Những trang ghi chép tiếng Trung Quốc khi Đại tướng Lê Trọng Tấn tự học. Ảnh BT Binh đoàn Quyết thắng.

Mở đầu cuốn sổ ông ghi lịch các bài giảng lý luận chính trị có trong chương trình khóa học rất chi tiết từ ngày tháng, nội dung bài giảng đến giảng viên lên lớp. Tiếp đó là mẫu tự kiểm thảo cuối tháng của Đảng viên có đầy đủ, cụ thể các phần tự kiểm thảo: thành phần giai cấp; giác ngộ cách mạng; quá trình công tác và thành tích đạt được; phương pháp tự học tập và nhận xét về chính sách chung của Đảng, các chủ trương công tác và tình hình địa phương. Phần giữa cuốn sổ ông ghi các bài giảng lý luận chính trị của lớp học, xen lẫn là nội dung các buổi nói chuyện của các cán bộ cấp cao như: đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Hồ Thị Minh, đồng chí Lý Ban (Đảng Cộng sản Trung Quốc) được ông ghi chép những ý chính. Phần cuối cuốn sổ, ông ghi chép tự học tiếng Trung Quốc.

Trang cuối cùng ông vẽ sơ đồ tổ chức biên chế của Trung đoàn 209 (Đoàn Sông Lô), nơi ông được chỉ định làm Trung đoàn trưởng vào năm 1949 sau khi chiến dịch Sông Thao kết thúc thắng lợi. Bước sang năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới, ông đã chỉ huy Trung đoàn 209 tham gia đánh địch và giành thắng lợi vang dội, góp phần mở ra một thời kì mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến dịch Biên Giới kết thúc, ông được cử đi học lớp Lý luận chính trị khóa II trường Nguyễn Ái Quốc. Nội dung cuốn sổ được ông ghi chép trong khoảng thời gian đó.


Trang sơ đồ tổ chức biên chế của Trung đoàn 209 (Đoàn Sông Lô). Ảnh BT Binh đoàn Quyết thắng.

Nghiên cứu kĩ về nội dung cuốn sổ, chúng ta sẽ có thêm cơ sở để khẳng định từ những bài giảng được ông ghi chép lại: Giải thích Nghị quyết Hội nghị Đảng toàn quốc lần thứ III (từ 21/1 đến 2/2 năm 1950); Tóm tắt chính sách Đảng qua các thời kì; bài giảng về Vô sản chuyên chính (11-13/3); Chiến lược chiến thuật (22-22/3); Lịch sử chính sách Đảng (24-28/3) đến bài giảng Xây dựng Đảng (5-6/4)… đã đặt nền móng xây dựng nên nhân cách vĩ đại của một vị Đại tướng giỏi về lý luận, sắc về chiến thuật, chiến lược, có khả năng xoay chuyển cục diện trận đánh.

Trong suốt hai cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, ông là vị tướng cầm quân, là tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn, quan trọng nhất, luôn có mặt ở chiến trường gai góc, nóng bỏng nhất. Ông đi đến đâu, chỉ huy bất cứ chiến dịch nào, cán bộ, chiến sỹ đều vững tâm, đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt đối vào người chỉ huy rất nghiêm khắc, thẳng thắn nhưng cũng rất bao dung, nhân hậu, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đại tướng Lê Trọng Tấn được các nhà khoa học quân sự và quân đội các nước anh em thán phục về học tập, tài năng, đức độ, trình độ chiến lược, chiến thuật kiệt xuất, tinh thông trong việc luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân.

Xác định Cuốn sổ ghi chép là hiện vật vô cùng giá trị, Bảo tàng Binh đoàn đã thực hiện các thủ tục pháp lý để sớm đưa hiện vật ra trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu với các đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan; góp phần tuyên truyền về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của vị tướng huyền thoại trong lòng nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Đó cũng chính là việc làm thiết thực để tri ân công lao to lớn của vị tướng trưởng thành từ khi là cán bộ Trung đoàn và sau này là Tư lệnh Binh đoàn Quyết thắng anh hùng./.


Nguồn: Thiếu tá Nguyễn Hương Nhài – Bảo tàng Binh đoàn Quyết thắng
27-03-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s