Nhật ký bằng thơ trên đường hành quân của liệt sĩ Hoàng Bá Lễ


26-07-2018
103 bài thơ đủ các thể loại lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thơ tự do là những dòng thơ toát lên tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước, tình đồng đội, lý tưởng của thanh niên… được tác giả sáng tác suốt 5 năm trên đường hành quân chiến đấu. Đó là cuốn nhật ký bằng thơ mang số đăng ký 9560-Gi-2877 của liệt sĩ Hoàng Bá Lễ được lưu giữ và phát huy giá trị tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Tiếng thơ là tiếng lòng

Liệt sĩ Hoàng Bá Lễ sinh năm 1947 ở làng Lương Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ngày 3/5/1965, khi đang học lớp 7/10 Trường phổ thông cấp 2 Bắc Sơn, theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh xung phong nhập ngũ. Trước khi lên đường, bạn bè trong lớp tặng anh một cuốn sổ nhỏ làm kỷ niệm. Ngày 30/5/1965, anh viết bài thơ đầu tiên: “Quyển sổ kỷ niệm của trường/ Tặng tôi trước lúc lên đường nhập quân; Ơi quê hương! Ơi mái trường/ Sổ này ghi mãi tình thương mặn nồng”.

Vốn yêu văn thơ từ thuở nhỏ, Hoàng Bá Lễ dùng cuốn sổ này viết nhật ký. Trong bài Nhớ nàng thơ, anh viết: “Tôi yêu thơ từ hồi còn bé/ Nằm trong nôi nghe mẹ tôi ru/ Câu Kiều của Cụ Nguyễn Du/ Ngọt ngào tiếng mẹ ngủ thiu lúc nào…”. Hoàng Bá Lễ có một sức viết kỳ lạ, anh viết nhật ký tâm sự riêng tư của mình bằng thơ, viết thư về cho cha mẹ, anh, em bằng thơ… Trên mỗi chặng đường hành quân, cảm xúc dâng tràn, những “đứa con tinh thần ăm ắp hơi thở cuộc sống và sức chiến đấu” ra đời dưới bút danh Hào Xuân. 103 bài thơ đủ các thể loại được anh sáng tác từ tháng 5/1965 - 3/1970 được lưu lại trong cuốn nhật ký bằng thơ. Đó là những suy tư mộc mạc nhưng toát lên ở anh một tình yêu quê hương, đất nước cháy bỏng, một trái tim dào dạt ước mơ, một trí tưởng tượng phong phú và một niềm say mê đặc biệt về thơ.


Bài “Tôi yêu thơ” của liệt sĩ Hoàng Bá Lễ - Ảnh BTLSQSVN.

23 tuổi đời, anh đã sống trách nhiệm, can trường và lạc quan yêu đời. Đọc nhật ký thơ của anh, điều mà ai cũng nhận được suy nghĩ của người thanh niên trước vận mệnh của Tổ quốc: “Ra đi mang nặng tình quê/ Trong lòng khắc chữ lời thề sắt son/ Vì nước, vì non, một còn, một mất...”; “ Làm trai đánh giặc bốn bề/ Giữ làng, giữ nước, giữ quê, giữ nhà/ Nằm chờ đất nước về ta/ Làm trai như rứa thối tha vô cùng/ Làm trai thỏa chí anh hùng/ Dựng xây đất nước tình chung một nhà…”. Khi đã trở thành người chiến sỹ phòng không, anh tâm niệm: “Súng sắt thép, dạ càng sắt thép”; “Trong lửa tình cách mạng/ Những người con của Đảng/ Chiến đấu thật kiên cường/ Chẳng tiếc gì máu xương/ Khi Đảng cần dân muốn…”.

Thơ anh luôn chở nặng những hoài niệm tuổi thơ, nỗi nhớ quê hương, nhớ những người thân yêu da diết. Trong bài Giấc mơ thấy quê, anh viết: “Trưa nay giấc ngủ chập chờn/ Ai ngờ thấy cảnh Bắc Sơn quê nhà/ Lương Sơn quê mẹ ta ơi/ Nơi nuôi chí lớn lên người hôm nay… Thế rồi mộng tỉnh tan bay/ Quanh mâm pháo vẫn cỏ cây hương rừng”. Những câu như mạch nước ngầm trong trẻo nhớ về đất mẹ: “Chiều nay ta bắn máy bay/ Tay lái giặc Mỹ tan thây xuống đồng/ Thế là đơn vị lập công/ Đêm nằm ôm mộng mơ về quê hương… Xa nhà trăm nhớ ngàn thương/ Chiến trường rực lửa kiên cường lắm thay/ Làm nên chiến thắng càng say…”.

Trong bài thơ gửi cha mẹ, anh viết: “Trên trận địa con ngồi viết vội/ Biên thư này con gửi mẹ cha/ Trùng rừng, điệp núi bao la/ Đường xa thăm thẳm quê nhà nhớ thương/ Chiều chiều gió nổi ngàn sương/ Lòng còn tự hỏi quê hương hướng nào… Hôm nay đứng giữa núi ngàn/ Nhìn về quê mẹ muôn vàn nhớ thương…”.

Lên đường chiến đấu ở tuổi 18, Hoàng Bá Lễ có một mối tình vấn vương tuổi học trò chưa dám thổ lộ, anh tâm sự nỗi lòng mình qua bài thơ Cây bàng: “Ai đưa bàng đến/ Ai đem mối tình/ Em có biết tên? Bàng rằng: Chắc đã dễ quên/ Anh rằng: Có biết nói lên mối tình? …Anh đi nhớ bóng trăng yêu/ Bàng ơi! Có hiểu tình yêu quê nhà…”. Sống trong quân ngũ 5 năm, tình cảm của anh với những người đồng đội thật sâu nặng: “Áo bạc sờn vai/ Hờn căm giặc Mỹ/ Ngày đêm không nghỉ/ Bảo vệ nơi nơi”“Mời các bạn đón xem/ Bài thơ tình đồng chí/ Trên đường đi đánh Mỹ/ Có vui nào vui hơn/ Lòng sục sôi căm hờn/ Ngày đêm trên mâm pháo/ Tình cảm thật dạt dào? Như anh em ruột thịt…”


Bức thư liệt sĩ Hoàng Bá Lễ gửi cha mẹ trong đó có bài thơ “Xuân gợi lòng thương” - Ảnh BTLSQSVN.

Khúc tráng ca bất tử

Bài thơ gửi cho anh trai là bài thơ cuối cùng anh viết trên đất Lào: “Gửi anh bức thư viết nhanh/ Màu xanh nét mực âm thanh trưa hè/ Rừng già ra rả tiếng ve/ Xạc xào rừng nứa, rừng tre gió Lào/ Xa xa tiếp nối tầng cao/ Từng làn mây bạc vương vào ngàn xanh…/ Nơi đây khói lửa chiến trường/ Ngày đêm chiến đấu pháo canh giữ trời… /Ngày mai thống nhất Bắc Nam/ Anh em ta lại họp chung việc nhà.”

Ngày mai ấy của anh đã khép lại. Trong hành trình “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” để đi đến ngày chiến thắng, anh đã nằm lại trên đất Mường Phìn ở tuổi 23. Cái ngày ấy không phải anh không biết trước, anh đã xác định: “Dù rơi một giọt máu đào/ Cũng là tô thắm cờ sao chí bền”; “Đời người ai chẳng muốn sống lâu/ Từ tuổi thanh xuân đến bạc đầu/ Nhưng vì chăng chỉ có một câu/ Sống như thế nào! Cho ra sống/ Để đền ơn công đức cha ông/ Mang dòng máu con Rồng cháu Lạc…” Anh ngã xuống nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc, nhân dân. Trong một bài thơ viết cho cha mẹ, anh gửi lời: “Thân con cha mẹ đừng Lo/ Có dân, có Đảng, có tình anh em/ Vì hạnh phúc gia đình/ Vì Tổ quốc quang vinh/ Con hoàn thành nhiệm vụ…”

Đất nước thống nhất, đồng đội đã đón anh về với đất mẹ. Nơi an nghỉ cuối cùng của anh ở Nghĩa Trang Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, khu vực của các liệt sĩ quê Nghệ An, số mộ E-99. 


Trang thơ của liệt sĩ Hoàng Bá Lễ - Ảnh BTLSQVN.

Mãi mãi ở tuổi 20

Sau khi nhập ngũ, Hoàng Bá Lễ trở thành chiến sỹ cao xạ pháo của Tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân. Anh cùng đồng đội chiến đấu với máy bay Mỹ bảo vệ tuyến hành lang vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4. Năm 1967, đơn vị của anh biên chế thuộc Đoàn 559, anh được điều về Khẩu đội 4 cao xạ cơ động làm nhiệm vụ bảo vệ các trọng điểm trên tuyến chi viện Trường Sơn, bảo vệ vùng giải phóng và bảo vệ cở sở cách mạng Lào. Có hai đơn vị hòm thư: 32.381-RT và 32381-KT được ghi lại trong một số bài thơ của anh. Cuộc sống chiến đấu nơi chiến trường gian khổ, ác liệt, đau thương nhưng sâu nặng tình người là cội nguồn để tạo ra cảm xúc dâng tràn trong thơ Hoàng Bá Lễ.

Khi Lon Non lên nắm chính quyền ở Campuchia (tháng 3/1970), cảng Xi-ha-núc vin (Sihanoukville) bị khóa chặt, các đoàn hậu cần của ta đứng chân trên đất bạn gặp khó khăn. Lúc đó, tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn của Đoàn 559 trở thành tuyến vận chuyển chi viện chiến lược duy nhất của ta. Mỹ tìm mọi cách, sử dụng mọi lực lượng hòng ngăn chặn tuyến đường này. Ngày 23/3/1970, trong trận chiến đấu với máy bay Mỹ, Thượng sỹ, Khẩu đội trưởng Hoàng Bá Lễ đã anh dũng hy sinh tại Mường Phìn, tỉnh Sa-va-na-khẹt (Lào).

Sau khi anh hy sinh, đồng đội đã trao lại cho gia đình những di vật của anh, trong đó có cuốn nhật ký thơ viết trên đường hành quân. Mấy chục năm trôi qua, quyển nhật ký “chứa lửa” ấy đã nhàu nát, mờ ố được gia đình lưu giữ lại làm kỷ niệm về đứa con yêu của mình, giữ lại để mỗi lần đến ngày giỗ anh cả nhà đọc lại cho vơi nỗi nhớ thương, cho con cháu noi gương. Năm 2003, gia đình đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật với mong muốn những ai đã qua chiến tranh tìm lại hồi ức của mình và để thế hệ trẻ hiểu, tự hào về một thế hệ cha anh quên mình vì nước, vì dân. Lửa vẫn âm ỉ trong những dòng thơ, trong bầu nhiệt huyết của Hoàng Bá Lễ, nó sẽ bùng cháy linh thiêng và hóa thành cái đẹp tác động, truyền cảm hứng cho chúng ta hôm nay./.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
26-07-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s