May cờ Tổ quốc trước ngày giải phóng và tấm lòng của đồng bào miền Nam


20-05-2018
Sát ngày giải phóng Sài Gòn, các đơn vị bộ đội lúc đó chỉ có cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (cờ sao vàng có 2 màu đỏ, xanh), ít đơn vị có cờ Tổ quốc. Đại úy, kỹ sư Nguyễn Trọng Quyến khi ấy là Phó Trưởng phòng Kế hoạch của Cục Quản lý Xe máy - Tổng cục Kỹ thuật, thành viên của đoàn đảm bảo kỹ thuật xe máy phục vụ cánh quân phía Đông, được Tư lệnh Lê Trọng Tấn giao một nhiệm vụ kỳ lạ. Trong một lần gặp gỡ, chúng tôi được ông kể lại câu chuyện đặc biệt này.

Sau giải phóng Đà Nẵng, tháng 4/1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn được được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm Quân đoàn 2, Quân đoàn 4, Sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Nhiệm vụ của cánh quân phía Đông là “nhanh chóng tiến theo đường số 1 chọc thủng phòng tuyến địch ở Phan Rang, tiếp đó cùng với các lực lượng B2 đánh chiếm Bà Rịa, Ô Cấp, khống chế sông Lòng Tàu, đặt pháo tầm xa ở Nhơn Trạch hoặc Thành Tuy Hạ chế áp các mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn, có phương án vượt sông thọc sâu vào trung tâm thành phố”.

Ngày 22/4/1975, Bộ Tư lệnh tiền phương cánh quân phía Đông tiến vào Xuân Lộc (Đồng Nai). Sát ngày giải phóng Sài Gòn, các đơn vị bộ đội lúc đó chỉ có cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (cờ sao vàng có 2 màu đỏ, xanh), ít đơn vị có cờ Tổ quốc.


Đại tá Nguyễn Trọng Quyến và lá cờ Tổ quốc cắm trên xe Trung tướng Lê Trọng Tấn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4/1975.

Đại úy, kỹ sư Nguyễn Trọng Quyến khi ấy là thành viên của đoàn đảm bảo kỹ thuật xe máy phục vụ cánh quân phía Đông, được Tư lệnh Lê Trọng Tấn gọi đến và giao nhiệm vụ: “Cậu lập tức quay ra Phan Thiết, tìm cách may khẩn cấp 2.000 lá cờ Tổ quốc, 4 vạn băng đeo tay cho lực lượng quân quản. Bộ Tư lệnh đã quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn”.

Nghe đến chữ “giải phóng”, Đại úy Quyến thấy mình như muốn bay lên nhưng anh vẫn không khỏi lúng túng: “Thưa Tư lệnh, việc này khó quá. Vùng này mới giải phóng, đường sá, thầy thợ, tôi đều không biết, dân đã di tản tránh bom đạn, thời gian lại quá gấp...”.

Trung tướng Lê Trọng Tấn cười nhưng nghiêm nét mặt: “Mọi việc là do mình. Chiến tranh phải tùy cơ ứng biến, mệnh lệnh phải chấp hành. Cậu có một ngày để hoàn thành”. Thế là anh kỹ sư ô tô, xe tăng lên đường đi làm... “thợ may”.

Cầm tấm giấy giới thiệu của Trung tướng Lê Trọng Tấn, Đại úy Quyến và một chiến sĩ nữa lái xe quay ra Phan Thiết tìm gặp ông Ba Mì, Chủ tịch Ban Quân quản Phan Thiết. Đại úy Quyến trình bày nội dung yêu cầu. Ông Ba Mì gãi đầu kể đúng những khó khăn mà anh đã dự liệu: Phan Thiết mới giải phóng được hai ngày còn nhiều lộn xộn, hầu hết dân chúng đều di tản tránh bom đạn chưa về, các cửa tiệm may, bán vải vóc đều đóng cửa... Cả hai nhìn nhau hồi lâu rồi cùng buột miệng: “Nhiệm vụ thì phải hoàn thành”. Nhưng chợt nhớ ra, ông Ba Mì hỏi Đại úy Quyến: “Thế đồng chí có tiền không để mua vải, trả công may”.


Lá cờ Tổ quốc được Đại tá Nguyễn Trọng Quyến trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Đến lượt Đại úy Quyến lúng túng. Trong chiến tranh có ai nghĩ đến tiền. Rút ví, trong đó có mấy tờ giấy bạc 1 đồng cất từ ngày còn ở Hà Nội, anh đưa cho ông Ba Mì: “Thế này, tiền nong quân đội sẽ trả sau, trong túi tôi giờ chỉ còn đúng 5 đồng tiền miền Bắc”. Ông Ba Mì cười: “Đã là công việc của miền Bắc giao cho, chúng tôi sẽ huy động bà con các xưởng may cùng làm. Không cần tiền đâu, chỉ xin anh để lại một đồng làm kỷ niệm để bà con được ngắm hình Bác Hồ trên đó”.

Giây lát, ông Ba Mì nâng niu tờ giấy bạc cất vào ví của mình rồi ngẩng lên quả quyết: “Tôi cầm 1 đồng này, coi như Cụ Hồ giao nhiệm vụ. Tôi nhận thực hiện một nửa số lượng đồng chí cần, trưa mai cho xe đến lấy hàng”. Ông Ba Mì còn chiêu đãi Đại úy Quyến một cốc nước sôi và thanh lương khô. Đại úy Quyến mừng quá, một lần nữa thấy mình “bay lên”, mồ hôi toát ra ướt cả quần áo như vừa đặt xuống được một gánh nặng.

Quay xe ra Bình Tuy (tức Hàm Tân, Bình Thuận bây giờ) đã nửa đêm, Đại úy Quyến tìm gặp ông Ba Thành, Trưởng ban quân quản. Hai người lại cùng nhau nhăn trán trước những khó khăn cũ, nhưng lần này Quyến đã biết cách giải quyết: Rút ra 1 đồng bạc Cụ Hồ. Cũng vẻ xúc động không che giấu của người miền Nam, ông Ba Thành cất đồng bạc vào túi áo: “Tôi nhận cho anh!”.

“Lúc đó nhiệm vụ của tôi chỉ còn là điều xe chở hàng. Hẹn giờ các đầu mối xong, hai anh em lăn ra đánh một giấc đến tận chiều hôm sau. Mở mắt ra đã thấy cờ, băng tay đỏ chói được bà con chở đến bằng xe đạp, xe máy từ khắp nơi. Mọi người xúm vào đóng thùng, chuyển ra xe”, ông Quyến nhớ lại.


Lễ mừng chiến thắng tại Dinh Độc Lập, ngày 1/5/1975 - Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Ngày 24/4/1975, trong cánh rừng cao su miền Đông, đại diện các sư đoàn, trung đoàn tập trung lại nhận cờ và băng đeo tay cho lực lượng quân quản. Mọi người đều biết ngày thống nhất đất nước sắp đến rồi. Ngày 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu.

Sau ngày giải phóng, đất nước thống nhất, cuối tháng 5/1975, Đại úy Quyến trở lại Phan Thiết, Bình Tuy tìm ông Ba Mì, Ba Thành hỏi chuyện thanh toán công nợ. Hai ông đều cười, bảo: “Anh về báo cáo Tư lệnh: Chiến dịch Hồ Chí Minh thành công, bớt đổ máu của dân công là tiền công lớn nhất với chúng tôi rồi. Bộ đội không tiếc máu xương máu, sao chúng tôi tiếc tiền”. Đại úy Quyến quay về, một lần nữa ông cảm động không nói lên lời về nghĩa đồng bào.

10 năm sau, năm 1985, nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ông Quyến được tháp tùng Đại tướng Lê Trọng Tấn vào thành phố Hồ Chí Minh dữ lễ mừng chiến thắng, nhắc lại chuyện cũ, Đại tướng chợt hỏi: “Rồi lúc đó cậu lấy tiền đâu trả công may cờ cho người ta”. Ông Quyến kể lại câu chuyện cũ, Đại tướng nghe xong rồi cũng lặng đi…

35 năm sau, cầm lá cờ đỏ sao vàng hầu như vẫn còn mới, vuốt từng đường kim mũi chỉ trên tay, Đại tá Nguyễn Trọng Quyến bùi ngùi: “Ngày ấy mọi việc sao mà đơn giản. Đơn giản đến nỗi tôi không hề nghĩ xem trong khi mình ngủ một giấc thì ông Ba Mì, Ba Thành phải đi vận động dân chúng như thế nào, đã gom vải, cắt may ra sao để có những lá cờ đẹp và đúng chuẩn như thế này. Đúng là tấm lòng của đồng bào miền Nam không gì đo đếm được”.

Một trong 10 lá cờ to nhất được ông Quyến cắm trên xe của Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông - Trung tướng Lê Trọng Tấn, là cánh đầu tiên tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, niềm vui vỡ òa cùng bao nhiêu công việc cuốn mọi người vào những sự kiện liên tiếp, nhưng ông Quyến vẫn nhớ cất vào đáy ba lô tấm băng đeo tay của mình cùng với lá cờ cắm trên xe tướng Tấn. Trở về Hà Nội, ông sử dụng luôn lá cờ ấy để cắm trước nhà mình trong những ngày lễ. Treo xong lại vuốt thẳng, gấp cẩn thận cất đi. Cứ thế cho đến khi ông trao tặng lá cờ Tổ quốc thiêng liêng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật số đăng ký: 11059-L-909./.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
20-05-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s