Cuốn sổ kỷ vật của người lính tàu “Không số” Vũ Đăng Khoa


02-05-2018
Đồng chí Vũ Đăng Khoa - cựu chiến binh Đoàn tàu “Không số” hiện sống tại tỉnh Quảng Ninh đã tặng lại Bảo tàng Hải quân một kỷ vật đặc biệt. Đó là cuốn sổ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng ông sau chuyến chở vũ khí vào Bến Tre, năm 1964.

Tháng 2/1964, đồng chí Vũ Đăng Khoa cùng 60 thanh niên Hòn Gai xung phong nhập ngũ và được điều về Quân chủng Hải quân. Những chàng tân binh trẻ được đưa ngay về tàu huấn luyện tại chỗ rồi nhận công tác vận chuyển vũ khí vào miền Nam ở Đoàn 759 (sau này là Đoàn 125 Hải quân). Vũ Đăng Khoa được điều về Tàu 67, một trong những con tàu vỏ sắt đầu tiên của Đoàn tàu không số do ta sản xuất.


Ông Vũ Đăng Khoa (đứng bên trái) tại Bệnh xá Đặng Thùy Trâm ở Đức Phổ-Quảng Ngãi - Ảnh QĐND.

Ngày 15 tháng 10 năm 1964, tàu 67 – Đoàn 125 Hải quân rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) có nhiệm vụ vận chuyển 70 tấn vũ khí vào bến Cồn Lợi (Bến Tre). Biên chế của tàu có 16 người: đồng chí Tư Nguyên làm Thuyền trưởng, đồng chí Chín Phước (Lê Hùng Phước) là Chính trị viên và Máy trưởng Hoàng Anh Dũng. Sau một ngày đêm ra khơi, thấy tình hình thời tiết vẫn gió bão, lại có tin tàu địch đang tuần tra, Thuyền trưởng Tư Nguyên báo cáo cấp trên và được phép cho tàu cập cảng Duy Linh (Trung Quốc). Cùng “tạm trú” ở Duy Linh với Tàu 67 còn có Tàu 54 của Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng (người Cà Mau) và Tàu 69 của Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước (người Cần Thơ).

Sau khi chờ dứt cơn bão tại cảng nước bạn, ngày 29 tháng 10 năm 1964, tàu rời bến. Sau hơn một tuần lênh đênh, tàu đến vùng biển Bến Tre. Khi chuyển hướng vào bờ thì trời bỗng nổi cơn giông, sóng to, tàu chao đảo và vướng vào bãi có nhiều đá ngầm ở Cồn Lớn (Thạnh Phú, Bến Tre). Lúc này tàu còn xa bờ chưa nhận được tín hiệu của bến. Tàu có thể bị lộ - con đường vận chuyển trên biển Đông chắc cũng không giữ được bí mật. Đã 1 giờ sáng, Chi bộ hội ý cấp uỷ và quyết định ba người là chính trị viên, máy trưởng và Vũ Đăng Khoa ở lại cùng con tàu, nếu bị lộ thì huỷ tàu theo phương án đã định trước. Số thuỷ thủ còn lại lên bờ tìm cách liên lạc với bến để vận chuyển hết số hàng trên tàu.


Cuốn sổ kỷ vật của
đồng chí Vũ Đăng Khoa trao tặng Bảo tàng Hải quân - Ảnh Bảo tàng Hải quân.

Buổi sáng hôm đó, có một chiếc máy bay của địch lượn 5 vòng quan sát quanh khu vực tàu đậu. Một lúc sau, một chiếc xuồng mà tốp lính mặc áo phao đỏ tiến về hướng con tàu. Mọi người trên tàu chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Còn cách tàu vài trăm mét, do Tàu 67 đã nguỵ trang cẩn thận nên địch không phát hiện được điều gì khả nghi, chúng quay lại về tàu. Vậy là Tàu 67 đã thoát nạn. Buổi tối hôm đó, anh em nhận được tín hiệu của bến. Số vũ khí, hàng hoá trên Tàu 67 đã được du kích, bộ đội địa phương và cán bộ, chiến sĩ tàu vận chuyển cất dấu an toàn.

Chiều hôm đó nước vẫn chưa lên, nhiệm vụ chuyển vũ khí đã được hoàn thành nhưng con Tàu 67 vẫn mắc cạn. Ban chỉ huy tàu họp bàn xin ý kiến cấp trên được hủy tàu để giữ bí mật. Anh em khẩn trương tháo gỡ những chi tiết máy móc quan trọng trên tàu rồi bịn rịn rời khỏi con Tàu 67 thân yêu. Thuốc nổ hàng tấn đã được cài sẵn. Từng người điểm hỏa theo vị trí đã phân công. Một tiếng nổ vang xé tan màn đêm tĩnh mịch. Con Tàu 67 đã tan ra, không còn để lại một dấu vết. Một tháng sau, cán bộ, thủy thủ Tàu 67 theo con Tàu 54 trở về miền Bắc, tiếp tục chuẩn bị cho những chuyến vượt biển chở hàng vào miền Nam…


Cuốn sổ được ông đã ghi chép các chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin tàu biển phục vụ cho nhiệm vụ sau này -
Ảnh Bảo tàng Hải quân.

Sau chuyến đi cùng tàu 67, đồng chí Vũ Đăng Khoa được xét tặng thưởng Huân chương chiến công Hạng Nhất và được tập thể tàu bầu chọn là người xuất sắc nhất trong chuyến đi. Cũng trong chiến công đó, đồng chí còn được một món quà rất quý của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tặng. Đó là một cuốn sổ công tác rất đẹp. Cuốn sổ đó sau này như một người bạn, một kỷ vật được ông cất giữ cẩn thận.

Ông đã ghi chép vào đó các chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin tàu biển phục vụ cho nhiệm vụ sau này. Cuốn sổ đã gắn bó cùng ông trong những ngày biên chế về Tàu 235 của Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, rồi những ngày huấn luyện gian khổ trên Tàu 246, cả những trận đánh đuổi tàu biệt kích giữ an toàn cho tàu chở hàng phục vụ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Cuốn sổ ghi chép đó bây giờ là một hiện vật quý của Bảo tàng Hải quân./.


Nguồn: Lê Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân
02-05-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s