Chiến công đầu phá bom


04-06-2019
Tại Bảo tàng Công binh hiện trưng bày và lưu giữ rất nhiều hiện vật bom, mìn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam. Trong đó, một vỏ bom nổ chậm 500kg được gọi là “chiến công đầu” của Bộ đội Công binh Việt Nam.

Vào tháng 9/1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích “Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc” và cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Trần Đăng Ninh làm Chủ nhiệm cung cấp.

Phương châm hoạt động của ta “về chiến dịch là đánh dài ngày, đánh liên tục, tiến từng bước chắc, đồng thời sẵn sàng nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Về chiến thuật là vây điểm, diệt viện; diệt viện, phá điểm”. Về kế hoạch chiến dịch, ta dự kiến chia làm 3 đợt: Đợt 1, tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ và tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho 1 bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai, phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch; Đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La, kết hợp với việc cắt đường số 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La; Đợt 3, tiến công Sơn La.

Ngày 9/10/1952 các lực lượng tham gia chiến dịch tập kết ở tả ngạn Sông Thao. Bộ đội Công binh có nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị qua sông thao trong ba đêm từ ngày 10 đến 12/10/1952. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và gặp nhiều khó khăn vì Tây Bắc là một vùng núi cao, địa thì hiểm trở, nền kinh tế còn nghèo nàn, điều kiện giao thông chưa phát triển, sông rộng, lực lượng qua sông lớn, phải bảo đảm bảo bí mật an toàn.


Sơ đồ bảo đảm của lực lượng Công binh trong chiến dịch Tây Bắc 1952. Ảnh Lịch sử Công binh QĐND Việt Nam 1979.

Vượt lên khó khăn, tính đến đêm ngày 12/10/1952, lực lượng Công binh đã đưa được 41 vạn lượt người, hàng trăm tấn trang bị, lương thực, thuốc men đã qua sông bí mật, an toàn và cơ động vào mặt trận. Sau khi qua sông, các đơn vị tham gia chiến dịch tiến theo năm đường do Bộ đội Công binh đã bí mật mở.

Để ngăn chặn đường tiến công của quân và dân ta, quân Pháp cho ném bom nổ chậm, bom (mìn) bươm bướm, thả đinh ba ngạch ở các khu vực suối Rút, Bãi Sang. Nhất là khi phát hiện quân và dân ta vận chuyển trên đường số 6 và đường  số 13, địch tập trung đánh phá các trọng điểm nhằm cắt đứt giao thông của ta. Vì vậy, việc chống phá bom nổ chậm trở thành việc cấp bách.

Để thực hiện nhiệm vụ cấp bách này, Trung đoàn Công binh 151[1] thuộc Đại đoàn 351 được Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ nghiên cứu, phá bom và đảm bảo giao thông quân ta. Trung đoàn nhanh chóng thành lập Tiểu đội phá bom 83, giao cho đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung (sau này là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân), cán bộ tham mưu trung đoàn chỉ huy. Khi địch mở rộng phạm vi đánh phá, tiểu đội phá bom được phát triển thành Đội phá bom 83 gồm 3 tiểu đội chuyên trách phá bom trên đường 13.

Sau một thời gian ngắn nghiên cứu, Đội 83 phát hiện địch thường thả bom, mìn ở những đoạn đường hiểm trở và nhận thấy: Bom nổ chậm nổ sau khi thả 30 phút và  sau đó cứ cách một giờ lại tự nổ hàng loạt. Từ đó, đội đã tìm ra biện pháp đối phó và đặt đài quan sát ở gần các trọng điểm để nắm chắc số lượng bom chưa nổ, địch ném trúng đường. Giải pháp ban đầu là tranh thủ thời gian bom chưa nổ để di chuyển bom ra khỏi đường giao thông, lăn xuống vực.


Đội 83 tiến hành phá bom trong chiến dịch Tây Bắc 1952. Ảnh tư liệu BTCB.

Sau một thời gian nghiên cứu cách phá bom, với lòng dũng cảm và trí thông minh, các chiến sĩ Đội 83 đã tiến hành khoan 18 lỗ đường kính 8mm ở đuôi một quả bom nổ chậm do địch ném xuống khu vực Tạ Khoa, lấy được ngòi nổ nguyên vẹn. Toàn đội nghiêm cứu tìm ra nguyên lý hoạt động của ngòi nổ M124-A1 và cơ cấu chống tháo của nó. Sau đó, các chiến sĩ tìm cách vần thân bom lấy được ngòi nổ có cơ cấu chống tháo ra một cách an toàn. Từ thành công bước đầu này, Đội 83 đã viết tài liệu phá bom để phổ biến rộng rãi trong lực lượng Công binh.

Trung đoàn Công binh 151 tổ chức ngay một lớp ngắn ngày phổ biến kinh nghiệm phá bom nổ chậm cho cán bộ trong trung đoàn và cán bộ Công binh các đại đoàn. Sau lớp học, mỗi trung đội Công binh tổ chức một tổ phá bom nổ chậm. Nhờ đó các tuyến đường Công binh bảo đảm được liên tục thông suốt.

Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, việc vận chuyển cung cấp trên đường 13 luôn được giữ vững. Bộ đội Công binh đã phá được bom nổ chậm, khắc phục nhanh chóng hậu quả địch bắn phá, giữ vững mạch máu giao thông. Với chiến công ấy, đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung vinh dự được Bác Hồ dành tặng món quà “chiếc áo lụa” của Người.

Việc nghiên cứu chống phá bom mìn địch để bảo đảm giao thông của Đội 83 trong chiến dịch Tây Bắc được tiến hành khẩn trương, đầy nguy hiểm và hoàn toàn mới mẻ, có lúc đã phải tổn hại xương máu. Đồng chí Nguyễn Ngọc Am, tiểu đội trưởng đã hi sinh khi đang nghiên cứu tháo ngòi nổ. Tuy còn đơn giản, nhưng biện pháp tổ chức chống phá bom mìn địch đã kịp thời, bảo đảm thông suốt đường số 13 và đặt cơ sở cho chiến thuật “chống phá bom mìn địch”  bảo đảm giao thông của Bộ đội Công binh Việt Nam ngày ấy.


Vỏ quả bom do Đội 83 phá thành công được trưng bày tại Bảo tàng Công binh. Ảnh Hoàng Hiền.

Kết thúc chiến dịch Tây Bắc, bộ đội công binh được thưởng 3 Huân chương Quân công hạng Ba, 3 Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất và vinh dự được Hồ Chủ tịch tặng lá cờ thêu bốn chữ vàng “Mở đường thắng lợi”. Bốn chữ vàng đó vừa là lời khen, vừa là phương hướng chiến lược Hồ Chủ tịch căn dặn bộ đội công binh cần thực hiện tốt. Từ đây “Mở đường thắng lợi” trở thành truyền thống vẻ vang dẫn dắt Bộ đội Công binh hòa nhịp cùng toàn quân, toàn dân tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến.

Thực hiện tốt lời khen tặng của Bác Hồ, các đơn vị công binh đã dấy lên phong trào thi đua mở đường tiến lên Điện Biên Phủ. Phong trào trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm công binh. Bộ đội Công binh đã sáng tạo ra cách bắc cầu phao bằng tre nứa; ghép phà chở xe, pháo và bộ binh qua sông; tổ chức vượt sông, phá bom nổ chậm, phá thác, ghềnh bảo đảm đường cơ động cho chiến dịch. Trung đoàn Công binh 151 phối hợp với các Đại đoàn 312, 316 và Trung đoàn 675… được huy động làm nhiệm vụ mở đường đưa pháo vào trận địa. Chỉ sau hơn 20 ngày lao động khẩn trương, cả 6 tuyến đường cơ động cho pháo, dài hơn 70km đã hoàn thành... Khi trận Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc, đoàn tù binh đi qua những con đường này về trại tập trung, đã nhận xét: “Riêng với việc làm được những trục đường này, các ông cũng đủ thắng chúng tôi rồi!”.


[1] Nay là Lữ đoàn Công binh 229 thuộc Binh chủng Công binh.


Nguồn: Hoàng Huyền – Bảo tàng Công binh
04-06-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

s