Cánh thư gửi vợ ngày đất nước thống nhất


22-04-2018
“Những đoàn quân ra trận, những người về thưa dần, trong những chiếc ba lô của những người còn sống trở về không có của cải mà trĩu nặng tình cảm từ những lá thư của hậu phương gửi ra chiến trường”. Đó là những lời Thiếu tướng Phan Khắc Hy - nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) bộc bạch trong một dịp chúng tôi sưu tầm hiện vật của ông.

Lá thư viết ngày đất nước thống nhất

Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, gia tài ông mang về cho vợ là chiếc ba lô đầy cứng, lỉnh kỉnh nào là bi đông, ăng gô, tăng võng,... đặc biệt là chiếc túi nhỏ màu xanh - vật làm tin khi họ yêu nhau. Chiếc túi đầy ắp những bức thư tình của vợ. Đó là những tờ giấy pơ luya mỏng tang từ Hà Nội chuyển vào Trường Sơn theo ông suốt các chặng đường hành quân, mang hơi thở và tình yêu chân thành, nồng ấm của hậu phương, là nguồn động viên vô tận thôi thúc ông ra trận. Chiến tranh không chỉ có bom đạn, mất mát, hy sinh mà còn có tình yêu được ươm mầm trong xa cách, chia ly qua những cánh thư nối liền hậu phương với tiền tuyến.

Những lá thư từ năm 1951 đến năm 1975, sau khi làm tròn nghĩa vụ của nó, được sắp xếp gọn ghẽ trong chiếc túi nhỏ màu xanh. Lá thư ông trao cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được chọn trong số 550 lá thư, không kể số thư thất lạc mà ông và vợ viết cho nhau suốt 24 năm xa cách đằng đẵng. Hết chống Pháp rồi đến chống Mỹ, ông đi chiến trường biền biệt, bà ở hậu phương, hai người chỉ nhờ những cánh thư nói hộ lòng mình.


Thiếu tướng Phan Khắc Hy và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan khi còn trẻ - Ảnh Tư liệu

Mặc dù chiến tranh đã kết thúc, non sông thu về một mối, Nam – Bắc chung một nhà nhưng người lính vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của mình. Gia đình nhỏ bé của ông vẫn ở ba nơi. Các con sống cùng ông bà nội, ngoại ở quê. Vợ ông đang làm Nghiên cứu sinh bên Tiệp Khắc, còn ông đang cùng đồng đội bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh vừa được giải phóng.

Trong niềm vui hân hoan chiến thắng, ông viết cho vợ:

Em yêu!

Chắc em không ngờ ngày 7/5 năm nay anh lại ngồi viết thư cho em tại Sài Gòn đã giải phóng... Nhiều cảm xúc đặc biệt, nhiều chuyện Sài Gòn trước, trong và sau ngày giải phóng không thể viết vội cho em được. Anh sẽ ghi lại nhật ký 2 tháng qua để sau này em cùng được sống lại với anh những ngày bằng hàng chục năm đó. Anh đến Sài Gòn ngày 1/5. Sài Gòn rất đông, suốt các ngả đường, dòng người, dòng xe cứ như nước... Tròn 30 năm tham gia cách mạng, trực tiếp được dự ngày lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, ngày vĩnh viễn giành độc lập tự do thống nhất cho Tổ quốc, anh và mọi người vui sướng. Anh vẫn khoẻ và cũng như các anh khác, trẻ lại hàng chục tuổi... Vấn đề lớn bây giờ và sắp tới là xây dựng đất nước thống nhất, phồn vinh, em sẽ về cùng tham gia vào sự nghiệp đó.

Viết vội chừng này... Gửi em tất cả niềm vui, xúc động, nhớ thương và tự hào...”.

Khi trao thư cho chúng tôi, ông cười thật hiền: “Thư của lính viết cho vợ đong đầy nhớ nhung là lẽ đương nhiên nhưng rặt toàn kể chuyện trận đánh với chiến công. Những bức thư đã trải qua bom đạn mang đến tình yêu và sức mạnh để chúng tôi hoàn thành được những nhiệm vụ cao cả của mình. Những lá thư viết trong thời chiến là những thông điệp yêu thương, rất chính trị mà trữ tình. Đó là những tâm tình của người chíến sỹ về đất nước, quê hương, về niềm tin chiến thắng của dân tộc được lồng ghép trong nỗi nhớ đau đáu, cồn cào của hai vợ chồng lúc chia xa.


Những dòng thư đầu Thiếu tướng Phan Khắc Hy gửi về cho vợ khi đất nước vừa thống nhất
- Ảnh BTLSQSVN.

Trao bức thư cho chúng tôi, ông gửi gắm: “Lá thư này là một trong số kỷ vật quý giá của chúng tôi nhưng nếu nó góp phần nói lên tiếng nói của một thế hệ đã sống và cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bồi đắp niềm tin, giáo dục lớp trẻ hôm nay để họ hiểu thêm về chiến tranh thì chúng tôi sẵn sàng trao cho Bảo tàng”. Bức thư của Thiếu tướng Phan Khắc Hy trao tặng, giờ đây là tài sản của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, mang số đăng ký 10665 Gi-3065.

Chiếc túi nhỏ màu xanh - vật làm tin

Chiếc túi nhỏ màu xanh, mũi chỉ đều tăm tắp, được khâu bằng tình yêu và nỗi nhớ của người con gái tặng ông thời kháng chiến. Đó là mối tình đầu tiên, duy nhất của Thiếu tướng Phan Khắc Hy. Ông kể: “Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo thuộc xã Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tháng 4 năm 1945, vừa tròn 18 tuổi, tôi tham gia cách mạng. Vốn nhiệt tình, hăng hái và dũng cảm, từ một cán bộ Việt Minh bí mật, năm 1947, tôi được điều về làm Huyện đội trưởng Huyện đội Bố Trạch kiêm Bí thư Huyện uỷ. Năm 1950, tôi được bổ nhiệm làm Tỉnh đội trưởng, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Bình. Cuối năm 1951, tôi được điều vào Mặt trận Bình Trị Thiên làm phái viên Mặt trận. Từ giã Quảng Bình, tôi vào Quảng Trị, đến cơ quan mặt trận nộp giấy tờ. Cô văn thư dáng mảnh mai, da trắng, nét mặt hiền thục, nói giọng Hà Tĩnh nhìn tôi e lệ. Xem xong giấy tờ, cô nói: Bộ Chỉ huy hẹn sáng mai gặp đồng chí”.

Quay về nhận nơi ở, lòng người lính miên man suy nghĩ về cô văn thư duyên dáng kia. Tìm hiểu qua bạn bè, ông được biết cô tên là Nguyễn Thị Ngọc Lan, kém ông 5 tuổi, quê ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Là con gái một gia đình nho học, năm 1950, sau khi học xong trung học, tình nguyện tham gia cách mạng và được điều về làm văn thư ở đây. Từ cái nhìn đầu tiên, ông đã có cảm tình với người con gái xinh đẹp, dịu dàng và có phần hơi nhút nhát này. Sau này cô đã thổ lộ: “Có lần em đọc bài thơ của thi sỹ Xuân Hồng ca ngợi về mảnh đất Bố Trạch có nói đến 3 nhân vật nổi tiếng tài giỏi của vùng này là Quách Xuân Kỳ, Đặng Tất và Phan Khắc Hy. Hôm gặp anh, xem giấy tờ, gặp người thật việc thật, nghe giọng nói ấm áp của anh, em đã nghĩ ngay những gì mọi người nói về anh thật đúng. Anh chính là thần tượng của em”.


Bức thư
gửi vợ ngày đất nước thống nhất - Ảnh BTLSQSVN.

Tình cảm giữa hai người mặn nồng theo năm tháng. Những dịp đi chiến đấu, nhớ cô văn thư, ông viết thư thăm hỏi và xẻ chia suy nghĩ của mình. Cô tặng tôi chiếc túi nhỏ màu xanh coi như vật làm tin. Cô muốn gửi gắm tình cảm của mình trong mũi chỉ đường kim và muốn chiếc túi sẽ đựng đầy những bức thư tình. “Một năm sau, tôi đặt vấn đề xin cưới. Cô văn thư của tôi “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Cô chối từ lời cầu hôn của tôi vì lý do muốn cưới xin phải xin phép bố mẹ hai bên và còn phải làm đủ các thủ tục lễ dạm ngõ, ăn hỏi...” - ông chia sẻ.

Lúc đó kháng chiến, việc đi lại giữa vùng tự do và vùng tề không dễ dàng. Điều đó, ông không thể thực hiện được. Biết chuyện này, anh Trần Quý Hai (sau này là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam) phê bình cô một mẻ nào là phong kiến, nào là cổ hủ. Phê bình thế nhưng anh vội viết thư về cho hai bên gia đình, mong thông cảm vì hoàn cảnh kháng chiến, xin phép cho chúng hai người tổ chức cưới. Được sự giúp đỡ của anh Trần Quý Hai - Chỉ huy trưởng Mặt trận Bình Trị Thiên và anh Chu Văn Biên - Chính uỷ Mặt trận, hai ông bà nên vợ nên chồng vào tháng 11/1952, tại chiến khu Ba Lòng.

Ông nhớ mãi lễ cưới được tổ chức chung cùng với đôi vợ chồng anh Trần Chí Cường (sau này là Phó Hiệu trưởng Trường sỹ quan Hậu cần). Hội trường tổ chức đám cưới là một chiếc lán rộng được che kín dưới tán là rừng. Bàn ghế trong hội trường là những thanh tre ghép lại. Anh Cường hồi đó phụ trách hậu cần nên tìm được ít vải trắng làm khăn phủ bàn. Hoa cắm trên bàn là những bông hoa giấy nhiều màu sắc cắm kèm với hoa dại và lá rừng, trông thật đẹp mắt. Những bông hoa giấy do chính hai cô dâu cặm cụi thức thâu đêm để cắt tỉa. Vợ anh Cường là chị Lâm là bạn thân của ông, chị nhờ người nhà ở dưới Huế gửi lên cho ít bánh kẹo. Mấy anh ở bộ phận tuyên huấn cắt giấy pơ luya, giấy than thành đôi chim trắng, đôi phượng tím và chữ lồng dán lên phông đám cưới. Tiệc cưới hôm đó sang trọng hơn bữa cơm thường ngày, không có thịt, nhiều rau hơn và đặc biệt phần độn sắn ít hơn. Đám cưới hôm đó thật vui, có đông đủ các anh lãnh đạo tỉnh và mặt trận cùng anh em trong cơ quan dự.


Thiếu tướng Phan Khắc Hy và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan đọc lại những bức thư kỷ vật - Ảnh sưu tầm.

“Sau bữa cơm, chúng tôi trở về phòng cưới. Phòng cưới của chúng tôi là chiếc lán của anh Chu Văn Biên cho mượn, còn anh đi ngủ nhờ. Chiếc giường của anh Biên đóng bằng gỗ, nan tre đêm nằm kêu cọt kẹt đến giật mình. Vợ tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc đến đêm tân hôn và cảm giác nằm trên chiếc giường đó đau lưng đến giờ. Chúng tôi hưởng trăng mật ba ngày. Thương vợ chồng chúng tôi, anh công vụ của tôi kiếm được mấy bơ gạo. Bữa cơm đầu tiên vợ nấu cho tôi ăn ở Ba Lòng, tôi nhớ suốt đời, đó là một bữa cơm không độn sắn” – ông nói.

Từ ngày cưới đến sau năm 1975, hai ông bà mới được sống gần nhau vì chiến tranh nên mỗi người mỗi nơi. Khi ông đi chiến trường thì bà theo cơ quan đi sơ tán, đi học. Mặc dù bận bịu nuôi dạy các con nhưng bà vẫn chịu khó học hành. Từ một văn thư, bà trở thành y sỹ của Sư đoàn 325, năm 1969 tốt nghiệp Đại học Y, bà chuyển về công tác tại Bộ Y tế. Năm 1973, bà đi làm nghiên cứu sinh ở Tiệp khắc.

“Xa nhau biền biệt nhưng tình cảm gắn kết giữa chúng tôi là những bức thư tình thời chiến. Những bức thư của chúng tôi gửi cho nhau qua những người vào chiến trường, những người từ chiến trường trở ra Bắc. Thư của chúng tôi viết cho nhau có lá đến được, có lá thất lạc, có lá thư thấm máu và mồ hôi đồng đội. Hiện chúng tôi giữ được 550 lá thư và chiếc túi nhỏ màu xanh kỷ vật của mối tình đầu tiên. Nó quý giá vô cùng!” - Thiếu tướng Phan Khắc Hy chia sẻ…/.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
22-04-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục
THƯ VIỆN Video

s