Quan điểm chiến tranh du kích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua tác phẩm “Phát động du kích chiến tranh”


01-01-2019
Cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những mốc son lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Được người thầy vĩ đại Hồ Chí Minh lựa chọn, dìu dắt, từ một giáo viên dạy sử ở Trường tư thục Thăng Long, ông trở thành người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà chiến lược quân sự lỗi lạc, một danh tướng huyền thoại của thế kỷ XX. Trong kho tàng di sản quân sự mà Đại tướng để lại cho hậu thế, quan điểm về chiến tranh du kích là một bài học lịch sử quý báu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những mốc son lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Được người thầy vĩ đại Hồ Chí Minh lựa chọn, dìu dắt, từ một giáo viên dạy sử ở Trường tư thục Thăng Long, ông trở thành người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà chiến lược quân sự lỗi lạc, một danh tướng huyền thoại của thế kỷ XX. Trong kho tàng di sản quân sự mà Đại tướng để lại cho hậu thế, quan điểm về chiến tranh du kích là một bài học lịch sử quý báu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Dù chưa trải qua một học viện hay trường lớp quân sự nào nhưng với ý thức trách nhiệm cao trước vận mệnh của Tổ quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biết trân trọng những di sản quân sự quý báu của dân tộc, nghiên cứu các tác phẩm quân sự Đông Tây kim cổ, đặc biệt là trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo – nguyên Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên từng nói: “Võ Nguyên Giáp là bậc thầy về cách đánh độc đáo và sáng tạo, vừa đảm bảo thắng lợi cao nhất cho trận đánh, vừa hạn chế thấp nhất thương vong cho tướng sĩ. Ông là vị thống soái có tài thao lược kiệt xuất…”[1]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết và cho xuất bản hàng trăm tác phẩm về đường lối quân sự của Đảng, về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chiến thuật chiến tranh du kích, về chiến tranh nhân dân đất đối không, chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, về vũ trang quần chúng cách mạng đi đôi với xây dựng quân đội nhân dân, về chiến thắng Điện Biên Phủ cùng các tập hồi ký thời kỳ đầu thành lập quân đội đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với bao tác phẩm quan trọng ấy, đã chứng tỏ Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà lý luận quân sự hàng đầu của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam – nơi lưu giữ, trưng bày và phát huy giá trị di sản văn hóa quân sự Việt Nam, về các tướng lĩnh, anh hùng quân đội nhân dân Việt Nam. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện đang lưu giữ rất nhiều tài liệu, hiện vật, hình ảnh quý giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tất cả các hiện vật đều toát lên được tầm vóc thiên tài quân sự trong con người Đại tướng - vị Tổng Tư lệnh kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong số đó, tiêu biểu là phương châm “chiến tranh du kích” được vị Tổng Tư lệnh vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và được thể hiện thông qua tác phẩm “Phát động du kích chiến tranh”.

Đầu tháng 10/1947, thực dân Pháp âm mưu mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực của ta, trên cơ sở đó phá huỷ căn cứ địa kháng chiến. Đánh lên Việt Bắc, Pháp còn nhằm khóa chặt biên giới Việt – Trung và ngăn chặn sự liên lạc giữa ta với quốc tế, tiêu diệt bộ đội chủ lực của Việt Nam để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh. Đứng trước thế và lực cũng như cách đánh tập trung của quân Pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp - Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ đã đưa ra quan điểm “du kích chiến tranh” và phát động phong trào du kích chiến tranh rộng khắp. Nhấn mạnh “phải quan niệm cho đúng chiến thuật du kích”, ngày 14/11/1947, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã viết cuốn “Phát động du kích chiến tranh” giữa lúc chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 đang diễn ra ở thế có lợi cho ta, quân Pháp bị bao vây, phục kích ở khắp các mặt trận.


Tác phẩm “Phát động du kích chiến tranh”. Ảnh BTLSQSVN.

Mở đầu cuốn sách Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh “Phải quan niệm cho đúng chiến thuật du kích” sát với tình hình thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đồng chí phân tích nhận xét về tính chất cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và thực dân Pháp, đồng thời chỉ rõ tương quan chênh lệch vũ khí giữa hai bên. Vì thế, phát động du kích chiến tranh là phù hợp, nó thể hiện tư tưởng binh pháp quân sự “biết địch, biết ta”. Lật lại những trang vàng trong lịch sử các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta, đồng chí Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Chiến thuật du kích là một di sản rất quý mà chúng ta đã được hưởng của ông cha ngày trước: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, bổ sung thêm bằng kinh nghiệm và khoa học của chiến thuật du kích các nước Nga, Trung Quốc…”. Trong tác phẩm, đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng đã đúc rút và chỉ ra sự khác nhau giữa thời Trần chống giặc Nguyên, thời Lê chống giặc Minh, Quang Trung chống giặc Thanh và Việt Nam chống thực dân Pháp. Cùng với đó, đồng chí cũng chỉ ra sự khác nhau giữa chiến tranh du kích Việt Nam chống thực dân Pháp và Trung Hoa chống Nhật, Liên Xô chống phát xít Đức.

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ các trận đánh đối phó cuộc hành quân chiến thuật xuống Bắc Cạn, cuộc tấn công mùa Đông vào Việt Bắc đã được đồng chí Võ Nguyên Giáp đúc kết những chiến thuật về lối đánh du kích, trong tác phẩm đồng chí nêu ra: Cách đối phó của ta là phải chuẩn bị đối phó để quân giặc đi đến đâu cũng gặp sự kháng chiến của ta. Cần phải nắm vững nguyên tắc: Phát động du kích chiến tranh rộng rãi để bao vây trở lại quân địch, đưa chúng từ chỗ bị động từng nơi, từng lúc đến hoàn toàn bị động sau này. Tác giả nhấn mạnh: “Du kích chiến tranh là căn bản”.

Từ sự phát triển của du kích chiến tranh sẽ tạo điều kiện cho vận động chiến, vận động chiến tiếp tục phát huy trong điều kiện thuận lợi. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cho rằng: Muốn đưa cuộc kháng chiến tiến lên vững chắc chưa phải là lúc tập trung bộ đội thành đại đoàn chuẩn bị những trận đánh lớn mà phải có một quá trình rèn luyện cho bộ đội ta từ thấp đến cao. Một quá trình kiên nhẫn, lâu dài. Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp viết: “Những sự kiện lần lượt hiện lên trong óc tôi mặt trận Huế vỡ, trận đánh Trung đoàn vào thị xã Hà Đông không thành công… đều chứng minh việc cần làm ngay chưa phải là tập trung xây dựng Đại đoàn mà ngược lại phải mạnh dạn phân tán một lực lượng bộ đội thành những Đại đội đi sâu vào địch hậu để phát động chiến tranh du kích. Các đội du kích non nớt sẽ nương tựa vào Vệ quốc đoàn mà trở nên bộ đội địa phương. Các đại đội độc lập sẽ tập trung dần lại, cũng như các bộ đội địa phương sẽ tham gia dần vào quân đội chính quy. Đồng thời nêu công thức Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” dùng cách đánh du kích và vận động chiến”.

Phát động phong trào du kích chiến tranh mà đồng chí nêu ra trong cuốn sách ngoài việc rèn luyện trình độ tác chiến cho bộ đội còn để buộc các đơn vị phải tích cực sáng tạo trong chiến thuật du kích vận động chiến. Mặt khác, khi quân ta đã được phân tán ra nhiều lực lượng nhỏ ở nhiều nơi, chiến tranh du kích sẽ phát triển lên cao ở những vùng địch tạm chiếm khiến thực dân Pháp buộc phải chia lực lượng không còn tập trung được lực lượng để đánh ta. Để thực hiện được điều thứ nhất (phát động du kích chiến tranh rộng rãi) thì việc phát triển, củng cố, nâng đỡ các đội du kích là việc làm tối quan trọng. Nhiệm vụ và chiến thuật của dân quân và du kích ngoài việc giúp đỡ bộ đội và phối hợp tác chiến cần phải nêu cao công tác phá hoại và gây một phong trào xung phong phá hoại mạnh mẽ. Để thực hiện điều thứ hai (vận động chiến), nguyên tắc tập trung phải được áp dụng theo điều kiện địch, địa hình, số lượng và chất lượng của bộ đội. Vì phải có tiểu đoàn tập trung hoạt động trên các mặt trận. Mỗi khu lại có chủ lực của khu để khi cần có thể huy động một lực lượng lớn để phối hợp tác chiến.

Đứng trước thế và lực cũng như cách đánh tập trung của thực dân Pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đưa ra 1 kế hoạch táo bạo tổ chức lực lượng theo công thức “Đại đội độc lập - Tiểu đoàn tập trung”, tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta. Theo đó sẽ phân tán 2/3 chủ lực, đưa các đại đội về địa phương, bố trí các trung đoàn và tiểu đoàn ở những địa bàn chủ yếu trước hết là dọc Đường số 4, dọc Đường số 2, ven sông Lô và Đường số 3 để tập kích để từng bước làm tê liệt và bẻ gãy 2 gọng kìm chủ yếu của địch. Cơ quan chỉ huy cũng chia theo 2 ngả: Bộ phận nặng ở lại căn cứ đi sâu vào trong núi, bộ phận nhẹ di chuyển ra ngoài khu vực bị uy hiếp vừa chỉ đạo chiến trường toàn quốc, vừa chỉ đạo chiến trường Việt Bắc. Và ngay trước mắt, việc phân tán lực lượng của Tổng Tư lệnh đã làm thất bại một trong 2 mục tiêu của thực dân Pháp trong cuộc tấn công lên Việt Bắc là tìm kiếm những trận giao chiến lớn để tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh”. Mặc dù, hành động phân tán lực lượng sẽ đi ngược lại nguyên tắc quân sự là tập trung lực lượng nhưng nó lại phù hợp với một tư tưởng binh pháp khác cũng rất quan trọng đó là “biết địch, biết ta”. Đây có thể được coi đây là sự vận dụng cực kỳ sáng tạo Binh pháp Tôn Tử là “Phản khách vi chủ” của Đại tướng ở tầm chiến lược, biến quân địch từ thế chủ động “tìm diệt” trở thành “bị động”, gặp phải sự tấn công trên khắp cả chiến trường. Còn ta, từ kẻ bị “săn lùng” trở thành người chủ động “tìm diệt” quân địch, khiến cho chúng không đạt được mục đích tiêu diệt chủ lực ta mà còn bị tiêu hao sinh lực lớn.

Nhờ công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động trong chiến dịch Việt Bắc và trên cả miền Bắc, đẩy quân Pháp vào thế bị động, căng mỏng binh lực ra đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp càng phải tập trung cho việc giữ vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động và đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét. Từ quyết định sáng suốt của Đại tướng - Tổng Tư lệnh, chiến dịch tấn công Việt Bắc của địch đã thất bại thảm hại, chúng không đạt được mục tiêu “chụp bắt cơ quan đầu não” của cuộc kháng chiến, không đánh được trận nào lớn với chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam ngược lại quân Pháp còn bị bao vây, tập kích, phục kích ở khắp nơi. Về phía ta đã hoàn thành thắng lợi mục tiêu đề ra là phá tan cuộc tấn công mùa đông của thực dân Pháp, mở rộng được căn cứ địa. Sau chiến dịch không những nghệ thuật tác chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam được nâng lên đáng kể mà còn thu được nhiểu vũ khí, phương tiện chiến tranh. Trong chiến dịch này đã không diễn ra trận quyết chiến chiến lược giữa bộ đội chủ lực của 2 bên. Pháp đến lùng sục rồi Pháp phải rút đi, tìm không được đối phương nhưng lại luôn bị đối phương uy hiếp trên các tuyến vận tải, tiếp tế.


Tác phẩm “Phát động du kích chiến tranh” giới thiệu tại triển lãm “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Chiến khu Việt Bắc”, tháng 10/2018. Ảnh BTLSQSVN.

Bên cạnh đó, tác phẩm hết sức đề cao đến công tác tổ chức của bộ đội, các cơ quan, sự điều chỉnh kho tàng, máy móc, vấn đề nghi binh… đều phải được chú trọng: Nhẹ nhàng, phân tán, bí mật, lưu động. Đâu cũng thấy ta, đâu cũng không thấy ta. Xuất kỳ bất ý “lai vô ảnh, khứ vô hình”. Đó là điều kiện cần thiết để triển khai du kích chiến tranh tiến tới thực hiện vận động chiến rộng rãi”. Tinh thần của tác phẩm như một mệnh lệnh: “phải quan niệm chiến thuật du kích chiến tranh cho đúng: Du kích chiến tranh vốn là một chiến thuật tuyệt diệu, để phá hủy lực lượng dự trữ của địch và bảo vệ nhân lực, vật lực, bảo vệ cơ sở dân chúng của ta. Du kích chiến tranh vốn là một chiến thuật có đủ sức mạnh để biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Chiến thuật du kích chiến tranh là chiến thuật giành lấy chủ động; phải phối hợp với quân chính quy, bộ đội, du kích, dân quân và dân chúng chặt chẽ; Phải thực hiện hẳn khẩu hiệu “Mỗi người dân là một người lính”.

Những gì đã diễn ra trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã cho thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kế thừa xuất sắc tinh hoa quân sự được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đúc kết từ thế kỉ XIII: “Hễ giặc đến như lửa cháy thì dễ chế ngự”. Trong cuốn hồi ký “Chiến đấu trong vòng vây” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại: “…nhận được điện khẩn là ngày 7/10 quân Pháp đã nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn. Tôi có nói với đồng chí Nguyễn Văn Huyên và Tôn Thất Tùng rằng: Theo kinh nghiệm của cha ông ta khi giặc đến ào ào như nước, như lửa thì không đáng sợ”. Và thật vậy, đồng chí đã vận dụng cách đánh của Hưng Đạo Vương tránh giao chiến trực diện với các đoàn quân địch đang đến ào ào như lửa cháy. Một mặt đồng chí lệnh cho các đơn vị đánh tập kích tiêu hao các binh đoàn Pháp. Mặt khác, bố trí đánh phục kích nhằm vào các tuyến vận tải tiếp tế cho các binh đoàn này, cùng với đó ở những nơi dự kiến quân Pháp đi qua tổ chức sơ tán dân và cất giấu lương thực triệt để, sau cùng giống như Thoát Hoan khi biết đoàn thuyền Trương Quan Hổ bị đánh đắm buộc phải rút, quân Pháp khi bị uy hiếp đường vận tải tiếp tế cũng đã phải rút lui, kết thúc chiến dịch mùa đông 1947, buộc Pháp phải bỏ chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh chuyển sang đánh lâu dài với ta, cuộc kháng chiến thuận lợi chuyển sang giai đoạn cầm cự, hai bên giằng co quyết liệt trên chiến trường.

Có thể nói dân quân du kích là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, trong cuộc chiến tranh 30 năm giải phóng dân tộc từ năm 1945 đến năm 1975, bên cạnh bộ đội chính quy, dân quân du kích có những đóng góp to lớn, đặc biệt trong chiến đấu họ là cha đẻ của những lối đánh chưa từng ghi trong từ điển quân sự. Sau này trong bài phát biểu tại Hội thảo Học thuyết Quân sự Việt Nam ngày 21/9/1986, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Trong lịch sử, chiến tranh du kích có ở nhiều nước nhưng để đánh bại được chiến tranh xâm lược lớn thì theo tôi được biết hiếm có nước nào thành công như nước ta...”. Những kinh nghiệm đúc kết này vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Để phát huy hơn nữa những kết quả đạt được trong công tác giáo dục lịch sử truyền thống cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam có các hình thức tuyên truyền về những sự kiện, những mốc son chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược gắn liền với vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, như: Tổ chức triển lãm chuyên đề và lưu động về chủ đề này với nhiều tên gọi khác nhau, tiêu biểu là triển lãm: “Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968” (tháng 1/2018), “Bản hùng ca Điện Biên Phủ trên không” (năm 2018), “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Chiến khu Việt Bắc” (tháng 10/2018) đúng vào dịp nhân kỉ niệm 5 năm ngày Đại tướng về với đất Mẹ Quảng Bình (04/10/2013 - 04/10/2018). Tại các cuộc triển lãm này, những hiện vật, tài liệu, hình ảnh gắn với cuộc đời sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam được đưa đi giới thiệu với công chúng ở các đơn vị, địa phương trên phạm vi cả nước, các học viện, nhà trường khu vực Hà Nội, từ đó sẽ khơi dậy tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ./.


[1] Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp – Đại tướng của nhân dân và hòa bình, NXB Lao động, Hà Nội, H.2009, Tr.46.


Nguồn: Trung tá, ThS Mai Thị Ngọc – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
01-01-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật LSQS

Anh hùng Trần Ngọc Chung

Anh hùng, liệt sĩ Trần Ngọc Chung sinh năm 1930, quê ở xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ tháng 10/1950, hy sinh tháng 3/1979 khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn...

s