Pháo cao xạ bắn rơi 8 máy bay Mỹ


03-06-2019
Tại Bảo tàng Quân khu 3 hiện trưng bày khẩu pháo cao xạ 40mm của Đại đội 4, Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Thái Bình sử dụng từ năm 1966 đến năm 1973 cùng đơn vị bắn rơi 8 máy bay Mỹ, được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang năm 1969.

Nói tới Đại đội 4 pháo cao xạ thuộc Bộ CHQS tỉnh Thái Bình trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là nói tới chiến công vang dội bắn rơi 8 máy bay địch. Đơn vị được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1969, Đại đội 4 đã trở thành niềm tự hào, kiêu hãnh không chỉ của riêng cán bộ, chiến sĩ Đại đội mà của cả quân và dân Quân khu 3. 

Đại đội 4, đóng quân ở cống Lân (Tiền Hải, Thái Bình), đơn vị được thành lập năm 1966. Với 4 khẩu đội pháo cao xạ 37mm, 40mm và hơn 40 cán bộ, chiến sĩ, cả Đại đội luôn phải gồng mình chống chọi với nắng mưa trên trận địa và bom đạn của giặc trút xuống.

Khi đế quốc Mỹ thất bại nặng nề trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, dốc toàn lực hòng giành thế áp đảo trên chiến trường miền Nam. Mỹ huy động hàng nghìn máy bay ném bom phá hoại miền Bắc cũng là lúc Đại đội 4 căng sức chiến đấu, không một phút nghỉ ngơi. Ngày nào cũng có một tốp máy bay F-4, F-8U, AD-6 từ biển Đông vào đánh phá các thành phố, thị xã của miền Bắc, trong đó có thị xã Thái Bình.


Đại đội 4 pháo cao xạ trong ngày gặp mặt. Ảnh Báo Thái Bình.

Cống Lân trở thành một trong những mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ. Năm 1967, Đại đội 4 có nhiệm vụ chặn đánh máy bay giặc, suốt cả ngày và trắng đêm, anh em trinh sát và các khẩu đội liên tục trực chiến, sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm tiêu diệt máy bay giặc. Chỉ trong năm 1967, Đại đội 4 đã bắn rơi 6 máy bay chiến đấu của không quân Mỹ.

Bị giáng những đòn chí mạng và thiệt hại nặng nề, giặc càng điên cuồng đánh phá, bất cứ nơi nào chúng nghi ngờ. Trận địa pháo cao xạ của Đại đội 4 ở cống Lân trở thành nơi giặc trút bom bừa bãi. Nhiều lần bom rơi sát trận địa, một quả bom tạ rơi gần giao thông hào, mảnh bom xuyên thủng hòm đạn pháo, suýt cướp mất mạng một số đồng chí. Cả trận địa đất cát bay mù mịt, không khí khét lẹt mùi khói bom, mặt mũi anh em lấm lem, nhìn không nhận ra nhau. Tất cả tự nhủ phải chiến đấu đến cùng, quyết tâm bắn hạ máy bay của chúng ngay trên trận địa này.

Năm 1968, khi Mỹ tạm ngừng ném bom, chúng chuyển sang dùng máy bay trinh sát không người lái để xác định các vị trí phòng không của ta, Đại đội 4 được lệnh chuyển từ Tiền Hải về trực chiến tại cầu Nguyễn (Đông Hưng) phối hợp với Đại đội 2, cống Trà Linh (Thái Thụy) và Đại đội 88 thành Tiểu đoàn 54 bảo vệ thị xã Thái Bình. Các chiến sĩ trinh sát đo xa phải thường xuyên quan sát bầu trời và sử dụng thiết bị bắt mục tiêu từ xa. Dù nắng hay mưa, ngày hay đêm, mặc cho mỏi cổ, hoa mắt vì canh gác bầu trời song các chiến sĩ không một giây phút bỏ vị trí, mất cảnh giác. Cuối năm 1969, Đại đội 4 đã một lần nữa bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái của Mỹ ở Kim Động (Hưng Yên).


Khẩu pháo cao xạ 8 lần bắn rơi máy bay Mỹ. Ảnh Văn Nhuận.

Năm 1972, khi tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc, đế quốc Mỹ đã dùng nhiều tàu chiến của Hạm đội 7 tiến vào cửa biển Đồng Châu pháo kích vào khu vực trận địa và cống Lân, đồng thời dùng máy bay trinh sát thăm dò hỏa lực, máy bay ném bom đánh phá. Ban đêm, pháo từ tàu chiến của giặc bắn lên đỏ rực cả mép biển rộng lớn, bao trùm lên trận địa, tuy không làm ai hy sinh nhưng một số quân tư trang bị cháy. Ban ngày, máy bay của chúng gầm rú chực bổ nhào ném bom.

Đại đội 4 đã chủ động làm hầm hào bảo vệ người và pháo, tránh được thương vong. Do bố trí trận địa khoa học, thường xuyên di chuyển nghi binh, phối hợp, hiệp đồng tác chiến nhịp nhàng với các đơn vị bạn, Đại đội đã góp phần tạo ra lưới lửa phòng không sẵn sàng thiêu cháy các loại máy bay của giặc khi chúng lọt vào trận địa. Trong một trận đánh, với sự chi viện của Đại đội 4 dân quân gái huyện Tiền Hải, Đại đội 4 đã bắn rơi chiếc F-4H. Chính vì vậy, mặc dù nhiều lần chúng muốn san bằng cống Lân và trận địa pháo của ta bằng mưa bom nhưng tất cả đều lạc mục tiêu, ta vẫn bảo vệ, giữ an toàn cho các công trình trọng điểm.

Trong 21 năm (1966 - 1987) xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đại đội 4 liên tục đạt đơn vị quyết thắng, là lá cờ đầu của lực lượng vũ trang Quân khu 3, cùng thành tích chiến đấu trên 200 trận, trực tiếp bắn rơi 8 máy bay, phối hợp với đơn vị bạn bắn rơi 3 chiếc khác. Đó là những thành tích chiến đấu, còn nói về Đại đội 4 là còn nói đến nghĩa tình thủy chung của bộ đội và phong trào tăng gia sản xuất giỏi. Mặc cho bom cày, đạn xới, đơn vị vẫn tranh thủ cấy lúa, trồng rau, nuôi lợn quanh trận địa bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm nuôi quân khỏe, phục vụ chiến đấu lâu dài. Chỉ tính riêng năm 1967 (năm cuộc chiến diễn ra ác liệt nhất), đơn vị đã thu hoạch được 1.450kg thịt lợn, 450kg thịt gia cầm, gần 3 tấn thóc, 11 tấn rau, gần 1.000 gốc sắn và một số loại lương thực khác.


Khẩu pháo cao xạ 40mm được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 3. Ảnh Văn Nhuận.

Nhắc về Đại đội 4 pháo cao xạ là nhắc đến phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao sôi nổi và những lớp học văn hóa cho những người chưa đọc thông viết thạo. Chính những hoạt động thiết thực đó đã gắn kết cán bộ, chiến sĩ đơn vị bền chặt và góp phần xây dựng Đại đội 4 trở thành “Đơn vị 5 giỏi”, được Chính phủ tặng 6 huân chương kháng chiến, Trung ương Đoàn tặng cờ Nguyễn Văn Trỗi và nhiều bằng khen của Quân khu 3, của tỉnh.

Và phần thưởng cao quý, tự hào nhất đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4 pháo cao xạ đó là được Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1969. Hiện nay, một khẩu Pháo cao xạ 40mm của Đại đội 4 lập thành tích bắn rơi máy bay Mỹ được trưng bày tại khu trưng bày ngoài trời Bảo tàng Quân khu 3, thu hút đông đảo khách đến tham quan, tìm hiểu./.


Nguồn: Văn Nhuận – Bảo tàng Quân khu 3
03-06-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật Sự kiện

Người anh hùng trên sông Pô Cô

“Hỡi Pô Cô ơi! Dòng sông mênh mông. Đôi bờ cây xanh biếc nước chảy xiết sâu thẳm. Qua tháng ngày hỏi sông ơi có biết Anh lái đò tên gọi A Sanh A Sanh…”. “Đây bất khuất Tây nguyên cao cao Núi mây...

s