Nửa đồng tiền bí mật


16-03-2019
Trong không gian trưng bày tầng 1 tại Bảo tàng Đặc công có một kỷ vật đặc biệt thường thu hút được sự quan tâm của du khách tham quan. Đó là nửa tờ tiền 50 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có màu tím nhạt, số sêri 258912 (số đăng ký BTĐC: 105-Gi-32) được tiếp nhận từ năm 1976 do bà Võ Thị Sang, vợ liệt sĩ Đặc công Biệt động Trần Văn Miêng trao tặng. Câu chuyện về người chiến sĩ đặc công ấy giúp thế hệ trẻ hiểu sâu hơn hiểu rõ hơn về những chiến công của các anh hùng, liệt sĩ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Năm 1965 sau những thất bại nặng nề trên chiến trường, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh Cục bộ” ở miền Nam và gây chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nước ta. Hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu đã đổ bộ vào miền Nam. Bên cạnh đó, Mỹ còn tăng cường các phương tiện chiến tranh trong năm 1967 gấp từ 2 đến 5 lần so với năm 1965. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu trong giai đoạn mới, đòi hỏi lực lượng vũ trang và nhân dân ta trong đó có Binh chủng Đặc công cũng phải gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị xây dựng lực lượng đón thời cơ chiến lược mới.

Đơn vị A20 thuộc lực lượng Biệt động Sài Gòn có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí do đồng chí Đỗ Tấn Phong (Ba Phong, sau này là AHLLVTND) và đồng chí Hai Sang chỉ huy được thành lập. Cùng với A20, đơn vị A30 ra đời với nhiệm vụ chuyên xây dựng hầm bí mật dùng để ém quân và cất giấu vũ khí do đồng chí Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ huy, đồng chí Tư Địch, Võ Văn Thanh, Hai Trí lần lượt làm Chính trị viên.

So với đội chiến đấu thì đội đảm bảo phải đảm nhiệm nhiều công việc công phu và phức tạp hơn bởi vì công tác đảm bảo chiến đấu phải tiến hành ngay trong lòng địch, trước sự kiểm tra, kiểm soát gắt gao của kẻ thù nên được các chiến sĩ Biệt động phải tiến hành hết sức bí mật và mang tính quần chúng rất cao. Các chiến sĩ Biệt động phải tự giác tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc bí mật rất chặt chẽ việc ai người ấy biết và chỉ được biết trong phạm vi cho phép.


Tờ tiền 50 đồng là hiện vật có số đăng ký 105-Gi-32 được lưu giữ tại Bảo tàng Đặc công. Ảnh BTĐC.

Để xây dựng được các hầm chứa vũ khí lớn, sát nách các mục tiêu chiến lược và ngay trong hang ổ của địch cũng là một công tác cực kỳ phức tạp và khó khăn. Nhờ khả năng tổ chức tuyệt vời của đồng chí Hai Trí, công việc này được tiến hành rất tốt và có hiệu quả. Những người được các đồng chí chỉ huy của A30 lựa chọn để xây dựng hầm chứa vũ khí và ém quân đều là những chiến sĩ ưu tú, những Đảng viên trung kiên và là những tấm gương mẫu mực về tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Những chiến sĩ Biệt động ấy đều là những người đã có quá trình thử thách trong tù đày, chịu đựng được mọi ngón đòn tra tấn của địch, tuyệt đối trung thành với Đảng và cách mạng. Họ đều có nghề nghiệp ổn định, sống hợp pháp trong thành phố. Đây là hai tiêu chuẩn có tính quyết định trước tiên cho cán bộ làm công tác cất giấu vũ khí bí mật. Các đồng chí được chọn lựa còn là người có năng lực tốt trong công tác quần chúng. Nhiều đồng chí khi nhận nhiệm vụ đã phải chuyển chỗ ở, học nghề mới để tạo điều kiện che mắt địch.

Đồng chí Trần Văn Miêng là một chiến sĩ tự vệ thành phố Sài Gòn thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong một trận đánh, đồng chí đã bị địch bắt và giam giữ tại nhà tù Phú Quốc. Ở trong tù, bị địch tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, nhất quyết không khai báo. Do không có chứng cứ, địch buộc phải thả, đồng chí trở về Sài Gòn sinh sống và móc nối hoạt động trong lực lượng J9 thuộc đơn vị A30, Biệt động Sài Gòn do đồng chí Ngô Thanh Vân và đồng chí Nguyễn Văn Trí chỉ huy. Trần Văn Miêng lấy vợ tên là Võ Thị Sang quê gốc ở Đà Lạt. Để hoạt động hợp pháp trong lòng địch, với nghề nghiệp y tá nhưng đồng chí không xin làm việc ở bệnh viện mà hàng ngày đồng chí đi tiêm thuốc dạo khắp nơi để trinh sát và thu thập tin tức.

Được tổ chức phân công nhiệm vụ xây dựng hầm bí mật chứa vũ khí, lượng nổ chuẩn bị cho các trận đánh, Trần Văn Miêng đã phải bán ngôi nhà cũ ở xóm Chùa Tân Định, đến mua ngôi nhà số 384/38B ấp Bác Ái, xã Bình Hòa (nay là phường 12, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh). Từ khâu xây hầm và khâu nhận vũ khí vợ con đồng chí không hề được biết. Nhân lúc vợ sinh đứa con thứ 2, đồng chí đưa vợ về Đà Lạt để mình ở lại Sài Gòn tiện việc đào hầm chứa vũ khí, đạn dược và thuốc nổ bảo đảm được yếu tố bí mật. Khi vợ đưa con lên Sài Gòn, đồng chí không đi tiêm thuốc dạo nữa mà chuyển sang nghề đi bán bong bóng ở ngoại thành như Thủ Đức, Lái Thiêu, Bình Chánh... để trinh sát, thu thập tình hình địch. Từ bao giờ, cái tên Ba Miêng không còn nữa mà mọi người thường gọi là ông Ba Bong Bóng.


Nửa tờ tiền 50 đồng có số sêri 258912 là “chìa khóa” của kho vũ khí dưới hầm nhà của đồng chí Trần Văn Miêng. Ảnh BTĐC.

Khoảng 20 ngày trước khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân Xuân 1968 nổ ra, trong lúc đi trinh sát cùng đồng đội, đồng chí bất ngờ bị tai nạn, được mọi người đưa vào nhà thương Bình Dân. Vết thương quá nặng, biết mình không thể qua khỏi, đồng chí liền gọi vợ đến bên cạnh, dặn dò mọi chuyện của gia đình. Trong lúc hấp hối, Trần Văn Miêng lấy ra một túi ni lon nhỏ gói nửa tờ tiền 50 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đưa cho vợ và dặn lại lời cuối cùng: “Tôi có một gia tài rất quý là nửa đồng bạc này, mình cố gắng giữ gìn cẩn thận, dù có chết cũng không được để mất. Chừng nào anh Hai Trí về, mình giao lại hầm cho anh. Còn nếu người khác đến lấy, người ấy phải đưa một nửa tờ bạc còn lại khớp với nửa tờ bạc này thì mình hãy giao ngôi nhà của mình cho người đó và chỉ họ biết hầm vũ khí dưới chân giường của nhà ta...”. Và cho đến lúc chồng mình đi vào cõi vĩnh hằng, người vợ mới biết chính xác dưới nền nhà mình đang ở có một kho vũ khí lớn.

Hai ngày trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nổ ra, đồng chí Hai Trí cho giao liên đón cô Võ Thị Sang vào căn cứ Củ Chi, nói rõ nhiệm vụ trước mắt, tầm quan trọng của trận đánh và yêu cầu cô trao lại hầm vũ khí cho tổ chức. 20 giờ ngày 31/1/1968, có một đồng chí Biệt động bước vào đưa nửa tờ bạc khớp với nửa tờ bạc còn lại. Kho vũ khí dưới hầm nhà được giao lại cho đơn vị Biệt động. Toàn bộ số vũ khí này được bảo quản rất tốt và sử dụng để tấn công vào cổng số 5 của Bộ Tổng Tham mưu ngụy trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.

Chiến tranh đã lùi xa, những người lính Biệt động ngày ấy bây giờ có người còn, người mất, họ trở về với cuộc sống đời thường, bình dị bên người thân và đồng đội. Nhưng những người lính Đặc công Biệt động có quyền tự hào về những năm tháng hào hùng của họ. Tổ quốc cũng đời đời ghi nhớ công ơn của những anh hùng, liệt sĩ đã cống hiến xương máu, tuổi xuân của mình cho sự nghiệp cách mạng, cho sự độc lập, trường tồn của dân tộc. Những chiến công, những tấm gương của những người lính Biệt động đã đi vào huyền thoại sẽ mãi là cuốn sử sống để tiếp lửa truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau./. 


Nguồn: Lưu Thị Nguyệt – Bảo tàng Đặc công
16-03-2019
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật Sự kiện

Sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 đã kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Trước yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 800...

s