Người viết lịch sử Đảng trong tù và những kỷ niệm cuộc đời


08-11-2018
Chặng đường 50 năm theo Đảng và hoạt động của Trung tướng, cựu Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội Lê Hiến Mai, ngoài những trận đánh, có ba điều ông nhớ nhất: được Bác Hồ đặt tên, được ông Lê Đức Thọ làm mai mối và là người đã viết cuốn lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương trong tù.

Trung tướng Lê Hiến Mai có tên thật là Dương Quốc Chính, sinh ngày 23/11/1918, quê ở xã Trạch Mĩ Lộc, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ (nay là xã Trạch Mĩ Lộc, huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Sinh ra trong một gia đình trung nông, lên 4 tuổi thì cha mất, ông được bác nuôi ăn học. Năm 18 tuổi, ông đi dạy học để tự nuôi thân. Năm 1939, ông tình cờ gặp đồng chí Phan Trọng Tuệ và được giác ngộ nhà cách mạng, từ đó cuộc đời ông rẽ sang một con đường mới – con đường cách mạng.


Trung tướng Lê Hiến Mai. Ảnh Tư liệu.

Viết lịch sử Đảng trong tù

Năm 1941, trong một lần đi hoạt động gây dựng cơ sở, ông bị thực dân Pháp bắt. Chúng giam ông ở Sơn Tây rồi đưa ra Hà Nội. Năm 1942, ông bị đưa đi đày ở Sơn La. Tại đây, ông gặp các đồng chí: Song Hào, Trần Thế Môn, Nhị Quý, Lê Trung Đình... Dịp kỷ niệm 12 năm ngày thành Đảng Cộng sản Đông Dương (3/2/1942), mặc dù trong điều kiện bị giam cầm, tra tấn, nhưng anh em trong tù vẫn gom góp những tờ giấy bé bằng bàn tay, do cơ sở bí mật đưa vào, lấy chỉ đen đóng lại thanh cuốn sổ để ghi chép lịch sử Đảng. Chữ của ông vốn đẹp lại “văn” hay, nên được chi bộ chọn là người chắp bút, ghi lại lược sử Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1948, ông là 1 trong 12 người được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm cấp tướng đầu tiên. Trải qua nhiều cương vị công tác, đến tháng 8/1967, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương. Trong một lần ra thăm Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), ông đã trao tặng Bảo tàng cuốn lược sử Đảng do chính ông viết trong tù.

Cuốn sổ lược sử (số đăng ký 4035-Gi-651) có kích thước 7x9cm, nhỏ xíu chỉ bằng bao thuốc lá. Tính đến nay, cuốn lược sử Đảng mà tướng Mai viết trong tù đã hơn 76 “tuổi”, thời gian đã làm giấy ố nhoè, các góc sờn mủn nhưng nét chữ rắn rỏi viết bằng mực vẫn còn rõ chữ, thắng hàng, đều tăm tắp. Đáng ngạc nhiên, nội dung cuốn sổ là cả một pho lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương từ khi thành lập đến khi Đảng tròn 12 tuổi, được khái quát trên 50 trang giấy nhỏ viết tay, mà lại được viết trong hoàn cảnh cầm tù. Không có vết tẩy xóa, gạch chữ chứng tỏ người viết nghiền ngẫm rất kỹ, thuộc lòng từng chữ khi viết ra.


Cuốn lược sử Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê Hiến Mai viết trong nhà tù Sơn La, năm 1942. Ảnh BTLSQSVN.

Trong phần thứ VII với tựa đề: “Thời kỳ mới và nhiệm vụ mới”, tác giả cuốn lược sử đưa ra những nhận định hết sức sâu sắc:

“Không thể coi là đế quốc Pháp ít nguy hiểm hơn phát xít Nhật được. Chiến thuật: “Mặt trận dân chủ” không thích hợp nữa. Với những điều kiện mới mà cứ giữ mãi cái chủ trương ấy là cản trở tranh đấu của dân chúng, là nuôi cho họ một hy vọng hão huyền, còn tin cậy ở đế quốc Pháp”.

“Phải thay đổi chiến thuật để đối phó kịp với tình thế mới, phải lãnh đạo dân chúng đấu tranh một trận quyết liệt để phá tan nền thống trị hiện tại. Phải đánh đổ đế quốc Pháp cũng như phải kịch liệt đương đầu với phát xít Nhật. Chiến thuật mới của Đảng ra đời cuối năm 1939, đã trả lời những nhiệm vụ cần kíp và nặng nề ấy. Mục đích của nó là tập hợp hết thảy các tầng lớp dân chúng, các phần tử thành thật chống đế quốc, không phân biệt Đảng phái, giai cấp, tôn giáo chung quanh một Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế, đồng thời nổi dậy đánh đổ đế quốc Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương và thành lập một Chính phủ dân chủ thống nhất Đông Dương...”.

“Tình hình thế giới và trong xứ đã thay đổi, chiến thuật của Đảng đã thay đổi thì công tác của Đảng nghĩa là các phương pháp vận động tuyên truyền, tổ chức tranh đấu cũng phải theo đó mà chuyển hướng cho thích hợp... Đồng thời cũng phải vạch rõ cho dân chúng biết Đảng là kẻ tranh đấu kiên quyết nhất cho quyền lợi của toàn thể dân tộc, là đội tiền phong anh dũng duy nhất của cuộc vận động dân tộc giải phóng...”


Đồng chí Lê Hiến Mai (ngoài cùng, bên phải) cùng các cán Bộ Chỉ huy quân sự tại Việt Bắc. Ảnh Tư liệu BTLSQSVN.

Trong phần kết luận, những trang cuối cuốn sổ ghi rõ:

“Sau 12 năm thành lập trên con đường tranh đấu đầy hiểm trở gay go, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tỏ ra xứng đáng là đội tiền phong anh dũng, là Bộ tham mưu sáng suốt duy nhất của vô sản giai cấp mặc dầu nó còn nhiều khuyết điểm. Hơn nữa, nó đã tỏ ra là người lãnh đạo cương quyết hơn hết, đủ năng lực bênh vực quyền lợi cho toàn thể dân tộc Đông Dương tranh đấu chống đế quốc và phong kiến đem lại tự do, độc lập cho Tổ quốc... Đảng Cộng sản là con đẻ của vô sản giai cấp. Nó đã sinh trưởng và phát triển trong những cuộc tranh đấu của vô sản và của dân chúng chống đế quốc và phong kiến. Nguyện vọng của nó là nguyện vọng của dân chúng...”

Ngày 11/10/1944, ông cùng 12 người được đồng chí Song Hào tổ chức vượt ngục. Cuốn sổ lược sử này ông giữ lại làm kỷ niệm, mang theo trong suốt thời gian công tác tại Việt Bắc, dùng làm tài liệu học tập, tuyên truyền.

“Mái hiên” thành “Hiến Mai”

Thời gian sống tại Việt Bắc, vì ông bị răng hô nên mọi người trêu đùa gọi là “mái hiên”. Biết chuyện, Bác cho gọi chú “mái hiên” lên, rồi đặt tên cho ông theo chữ nói ngược từ “mái hiên” là “Hiến Mai”. Nghe Người nói xong, ông rất thích. Từ đó, cái tên Lê Hiến Mai đi theo ông đến suốt cuộc đời của vị tướng này. Bà Liên tâm sự: “Cho đến khi qua đời, ông vẫn thích mọi người gọi cái tên mà Bác đặt cho!”.


Từ trái sang: Trung tướng Lê Hiến Mai, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Thượng tướng Song Hào tại kỳ họp Quốc hội hóa VI, ngày 1/7/1976. Ảnh Tư liệu.

Được “mai mối”

Cái duyên để tướng Lê Hiến Mai có cái tên đẹp cũng giống như việc ông lấy được người vợ đảm đang và phúc hậu sau này. Khoảng tháng 8/1948, đang là Chính trị viên Chiến khu 2, ông được lệnh vào Nam Bộ công tác. Sau khi Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh, ông được giao tiếp tục nhiệm vụ của tướng Nguyễn Bình. Trong quá trình hoạt động ở Nam Bộ, ông có dịp sống và làm việc cùng các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Thọ.

Thời kỳ ấy, bà Ngô Duy Liên là cán bộ phụ nữ, làm công tác tuyên truyền, vận động ở tỉnh Bạc Liêu, mỗi khi đi công tác xuồng địa phương, tướng Mai thường qua lại nhà bà Liên. Nhà bà làm nghề kéo mật nấu đường, thỉnh thoảng gia đình lại gửi cho ông một, hai lọ đường để đơn vị nấu chè. Được mấy bận, một hôm ông Sáu Thọ (Lê Đức Thọ), người rất thân với gia đình bà vận động lấy ông Mai.

Bà Liên kể: “Ông Thọ nói thằng Mai được lắm, hoàn cảnh của nó tội nghiệp, mồ côi cha mẹ, kể từ ngày vào Nam bặt tin gia đình. Rồi chị Bảy Huệ (vợ cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), chị gái tôi cũng nói thêm vào...”.

Một thời gian sau, tướng Mai và bà Liên làm đám cưới. Đó là ngày 30/4/1954, toàn miền Tây mở Hội nghị tuyên truyền về chiến dịch Điện Biên Phủ. Đồng chí Lê Đức Thọ sau khi ra Việt Bắc về báo cáo tình hình và phổ biến tin chiến thắng, đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ. Sau hội nghị, lễ cưới được tuyên bố. Bà Liên nhớ lại: “Đám cưới chúng tôi vui lắm. Ông Lê Đức Thọ làm chủ hôn nhà trai, đồng chí Ung Văn Khiêm, Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu, chủ hôn nhà gái. Dự lễ cưới có tất cả anh em ở toàn miền Tây, đặc biệt có đồng chí Lê Duẩn. Anh em ở nhà tù Côn Đảo tặng chúng tôi một đôi gối cưới thêu đôi vịt và hoa sen màu xanh nước biển rất đẹp, do anh chị em thêu trong tù gửi về”.

Cuốn lịch sử Đảng do Trung tướng Lê Hiến Mai viết trong ngục tù đế quốc nhắc nhở chúng ta về con đường sự nghiệp của thế hệ cha ông đi trước, qua đó góp phần giáo dục đạo đức, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau./.


Nguồn: Trần Thanh Hằng
08-11-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật LSQS

Anh hùng Trần Ngọc Chung

Anh hùng, liệt sĩ Trần Ngọc Chung sinh năm 1930, quê ở xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ tháng 10/1950, hy sinh tháng 3/1979 khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn...

s