Kỷ vật của lương y trong ngục tù Phú Quốc


24-08-2018
Những năm tháng bị giam cầm nơi ngục tù Phú Quốc (1968 - 1973), ông Nguyễn Trường Tộ (xã Khánh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) luôn thể hiện ý chí kiên cường của người chiến sĩ Cộng sản, biến nhà tù thành trường học, nơi chữa bệnh cho đồng đội… Những “báu vật” như cuốn sổ tay, bảng dạy học, bộ bấm móng tay do ông tự làm, gắn bó trong thời gian lao tù được ông gìn giữ, trân quý và trao lại cho Bảo tàng Quân khu 4.

Người biến ngục tù thành nơi chữa bệnh

“Năm 1966, vừa học hết lớp 10, tôi lên đường nhập ngũ, trở thành lính quân y thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 812 thuộc Sư đoàn 324 tham gia chiến đấu tại Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế với cấp bậc Thượng sỹ y tá. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, được trao tặng Huân chương chiến công hạng Ba và huy hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ. Ngày 29/5/1968, trong một trận đánh tại Triệu Phong (Quảng Trị), tôi bị thương và bị địch bắt giam tại Đồng Lâm (Thừa Thiên Huế), sau chuyển sang trại giam Non Nước (Đà Nẵng), ngày 24/6/1968, chuyển ra Phú Quốc (Kiên Giang)” - ông Nguyễn Trường Tộ mở đầu câu chuyện về những năm tháng bị tù giam tại Phú Quốc.

Nhắc lại những ngày tháng trong lao tù, ông kể: “Đó là ký ức không thể quên về khoảng thời gian phải chịu đau đớn tột cùng về thể xác. Không khai thác được gì ở tôi, chúng liền bẻ hết răng cho vào phòng biệt giam, rồi lấy búa đóng vào đầu ngón tay, đánh cho bong hết các móng tay mới thôi. Nhiều hôm, chúng tra tấn dã man, bắt tôi nằm xuống rồi lấy giày đinh dẫm lên ngực, lấy búa đập vào cột sống, rồi chọc màng nhĩ…”. Nhưng ông càng đau xót, day dứt hơn khi bản thân là chiến sĩ quân y, những lúc chứng kiến cảnh đồng chí, đồng đội mình bị bầm dập bởi đòn roi kẻ thù, những vết thương lở loét nhưng không được cứu chữa, cấp thuốc kịp thời.


Cuốn sổ ghi những bài thuốc và chiếc bấm móng tay kèm hai chiếc ngoáy tai của ông Tộ - Ảnh BTQK4.

Trong lao tù, không thuốc men, không dụng cụ, ông bí mật nhặt nhạnh những mẩu thép nhỏ, hay sợi dây đàn hỏng của quân cảnh, rồi mài sắc thành những chiếc kim châm. Dụng cụ ấy được ông dùng để châm cứu cho những người bị đánh đập bầm dập, thương tích tụ máu. Bởi theo ông, chỉ có cách đó người bệnh mới lưu thông khí huyết, khí độc mới được đưa ra ngoài. Với sáng tạo độc đáo đó, ông đã giúp được bao đồng chí, đồng đội giảm cơn đau thể xác. Nhưng cũng với sáng tạo bất chấp cả nguy hiểm của bản thân để cứu chữa cho đồng đội, không ít lần ông bị cai tù phát hiện. “Chúng lấy những cây kim châm cứu do tôi tạo ra từ những sợi dây thép gai rồi đâm vào đầu ngón tay. Tiếp theo, chúng găm một tờ giấy mỏng ở đầu kim, bật quạt vặn cỡ lớn. Tờ giấy quay tròn khiến chiếc kim châm đâm sâu vào ngón tay, đau nhói” - ông nói.

Để việc chữa trị đạt hiệu quả hơn, trong những lần đi tạp dịch, ông bắt đầu hái những loại lá có ích trong việc trị bệnh cho anh em trong trại. Với số lượng người cần được chữa trị quá nhiều, ông nhờ thêm anh em mỗi lần được ra ngoài phơi nắng hoặc đi tạp dịch tranh thủ hái những thứ lá như lá sim, lá khế, lá tàu bay, lá cây ngũ sắc, hà thủ ô trắng… mang về.

Khi hỏi đến những người bệnh được chữa trị trong tù, đôi mắt ông rưng rưng: “Những năm đó, các tù nhân bị giam giữ đông, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, tôi không nhớ nổi đã chữa bệnh cho bao nhiêu người. Nhớ anh Điểm ở Hà Bắc bị sốt rét, anh Thành ở Hà Tây bị tra tấn đến chấn thương sọ não, anh Cự ở Yên Thành (Nghệ An) sau khi tuyệt thực để phản đối đòi quyền lợi cho tù nhân thì bị kiết lỵ… Vừa chữa trị cho đồng đội, cùng với kiến thức y học của mình, tôi đấu tranh đòi quyền lợi thăm khám, cấp thuốc, chế độ chữa trị cho anh em trong tù. Qua nhiều lần đấu tranh, cuối cùng những người bệnh nặng được khám và cấp thuốc”.


Ông Nguyễn Trường Tộ trao tặng kỷ vật cho Bảo tàng Quân khu 4 – Ảnh BTQK4.

Quá trình cứu chữa đồng đội trong tù đã cho ông Tộ nhiều bài học quý giá. Với mong muốn lưu giữ lại những kinh nghiệm chữa bệnh và các bài thuốc hay mà anh em mách cho, ông nảy sinh ý tưởng ghi chép lại. Giữa lao tù không giấy, mực, ông nhặt nhạnh những mảnh bao thuốc lá quân cảnh vất vương vãi, sau đó tách mỏng ra làm đôi, gấp thành cuốn sổ tay bé xíu chỉ bằng hai ngón tay. Mực viết được lấy từ túi mực của con mực ống, bút viết là mảnh tôn hoặc thanh tre mài nhọn.

Dù bị lục soát gắt gao của giám thị và quân cảnh trại giam nhưng ông vẫn giữ được cuốn sổ cho đến ngày được trao trả. Và cũng từ đó, cuốn sổ được ông nâng niu cất giữ như một “báu vật” và trao tặng lại cho Bảo tàng Quân khu 4 với mong muốn “sẽ có nhiều người biết đến, và đó là cách để giáo dục con cháu truyền thống đấu tranh gìn giữ đất nước của dân tộc”.

Biến nhà tù thành trường học

Không chỉ chữa bệnh cho anh em bạn tù, trong thời gian bị giam tại nhà tù Phú Quốc, ông Tộ còn được Đảng bộ nhà giam giao nhiệm vụ làm Tổ trưởng tổ Đảng, có nhiệm vụ dạy chữ, dạy văn hóa, triết học cho các đồng chí trong tù.

Lúc đầu, Nguyễn Trường Tộ dạy chữ cho anh em bằng cách dùng viên đá, mảnh ngói viết xuống nền đất. Khi nào thấy lính canh đi kiểm tra thì nhanh chóng xóa đi. Sau này, để phục vụ tốt hơn nhiệm vụ dạy học, thầy giáo Tộ đã sáng tạo ra chiếc bảng viết, bao gồm: một tấm bìa giấy cứng cắt theo hình chữ nhật, một tấm vải xé ra từ quần áo tù binh bọc lên tấm bìa đó, 1 ít nhọ nồi từ nhà bếp trộn với mỡ xe (mỡ xe được bí mật lấy trộm từ xe chở nước vào trong trại giam), nhọ nồi và mỡ xe được đánh trộn đều rồi phết lên tấm vải, dùng tấm bao bóng mỏng đặt lên bảng. Bút viết được làm từ que tre vót nhọn.

Khi viết lên trên tấm bao bóng (ni lông), chữ sẽ hiện ra, gặp quân cảnh hay giám thị vào chỉ cần nhấc tấm bao bóng lên sẽ mất hết chữ, không bị phát hiện, bảo đảm an toàn bí mật. Với chiếc bảng này, đồng chí Nguyễn Trường Tộ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học mà Đảng bộ nhà giam giao phó.


Ông Nguyễn Trường Tộ viết trên tấm bảng tự sáng tạo để dạy học trong tù - Ảnh BTQK4.

Ông Tộ còn thuộc “Truyện Kiều”, sau những trận đòi roi cực hình, những tù binh lại ngồi bên nhau nghe ông ngâm Kiều, bói Kiều. “Nhớ nhất là cái Tết năm 1972, sau khi chào cờ và mặc niệm, mấy anh em cùng buồng giam bảo tôi bói một quẻ Kiều. Và câu Kiều bắt được là: “Chén vui nhớ buổi hôm nay/ Chén mừng xin đợi ngày này năm sau”.

Và “ngày này năm sau”, năm 1973, sau Hiệp định Pa-ri, ông được trao trả tự do và trở về an dưỡng tại Quân khu 3 một năm, sau đó được đơn vị cử đi học tại chức ngành y. Nhưng ông đã khước từ, quyết định tự ôn và thi đậu trường Đại học Y khoa Hà Nội, chuyên ngành Đông y. Năm 1980, ông về công tác tại Sở Y tế Nghệ An. Ba năm sau, ông chuyển sang Hội Đông y tỉnh, được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội. Trong quá trình làm việc, ông đã tham gia biên soạn 10 công trình về Đông y được Bộ Y tế trao giải thưởng cao quý Hải Thượng Lãn Ông, Hội Đông y Việt Nam tôn vinh danh hiệu Lương y tiêu biểu.

Khi tôi đặt bút viết bài này thì ông Nguyễn Trường Tộ, người cựu tù Phú Quốc kiên trung đã yên nghỉ trong lòng đất Mẹ (ông mất tháng 12/2017), nhưng những hiện vật được lưu lại tại Bảo tàng Quân khu 4 sẽ viết tiếp một câu chuyện dài về những con người, những sự kiện, sự tàn khốc, dã man của địch, tinh thần đấu tranh bất khuất của những người tù cách mạng sẽ còn lưu lại mãi mãi với thời gian./.


Nguồn: Phan Thanh Nga – Bảo tàng Quân khu 4
24-08-2018
Các bài viết gần đây
Các bài viết cùng chuyên mục

Trận đánh tiêu biểu

Ký ức về trận đánh trên cao điểm 875 Đắk Tô (tháng 11/1967)

Trận quyết chiến của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên với Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại cao điểm 875 trên vùng rừng núi Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 1967 đi vào lịch sử hơn nửa thế kỷ. Nhưng ký ức trận chiến ác liệt ngày đó vẫn không phai mờ trong tâm trí của những lính trực tiếp chiến đấu, trong đó có Cựu chiến binh Nguyễn Trần Kiêm.

Nhân vật LSQS

Anh hùng Trần Ngọc Chung

Anh hùng, liệt sĩ Trần Ngọc Chung sinh năm 1930, quê ở xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhập ngũ tháng 10/1950, hy sinh tháng 3/1979 khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn...

s